Người đăng tải, chia sẻ thông tin vi phạm trên không gian mạng có trách nhiệm gỡ bỏ nội dung khi nhận được yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Vậy người đăng tải, chia sẻ thông tin vi phạm trên mạng phải gỡ bỏ trong bao lâu?
- 1. Thời hạn gỡ bỏ thông tin vi phạm trên mạng là bao lâu?
- 1.1. Thời hạn gỡ bỏ thông tin trong trường hợp thông thường
- 1.2. Thời hạn gỡ bỏ trong tình huống khẩn cấp
- 1.3. Phải thông báo sau khi đã gỡ bỏ thông tin vi phạm
- 2. Những nội dung phải gỡ bỏ và biện pháp ngăn chặn thông tin tiếp tục lan truyền
- 2.1. Phải xóa những nội dung nào khi nhận được yêu cầu?
- 2.2. Người đăng tải, chia sẻ phải làm gì để ngăn thông tin vi phạm tiếp tục lan truyền?
- 2.3. Khi phát hiện thông tin vi phạm nhưng chưa nhận được yêu cầu gỡ bỏ thì phải làm gì?
- 3. Trách nhiệm cung cấp dữ liệu và xử lý khi không chấp hành yêu cầu gỡ bỏ
- 3.1. Thời hạn cung cấp thông tin, dữ liệu liên quan đến nội dung vi phạm
- 3.2. Không gỡ bỏ thông tin đúng thời hạn có thể bị xử lý như thế nào?

1. Thời hạn gỡ bỏ thông tin vi phạm trên mạng là bao lâu?
1.1. Thời hạn gỡ bỏ thông tin trong trường hợp thông thường
Khoản 7 Điều 10 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Thời hạn thực hiện nghĩa vụ gỡ bỏ: chậm nhất là 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu; tình huống khẩn cấp thực hiện trong thời hạn chậm nhất là 06 giờ; đồng thời có trách nhiệm thông báo kết quả thực hiện theo yêu cầu."
Theo đó, đối với trường hợp thông thường, người đăng tải, chia sẻ thông tin vi phạm phải hoàn thành việc gỡ bỏ trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu.
Thời hạn này được tính từ thời điểm nhận được yêu cầu gỡ bỏ, không phải từ thời điểm thông tin được đăng tải hoặc chia sẻ trên mạng.
Đồng thời, khoản 6 Điều 10 Nghị định này xác định nghĩa vụ gỡ bỏ áp dụng đối với thông tin vi phạm thuộc phạm vi quản lý của tổ chức, cá nhân khi có yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền.
1.2. Thời hạn gỡ bỏ trong tình huống khẩn cấp
Cũng theo khoản 7 Điều 10 Nghị định 327/2026/NĐ-CP, trong tình huống khẩn cấp, thông tin vi phạm phải được gỡ bỏ chậm nhất trong 06 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu.
Về việc xác định tình huống khẩn cấp, khoản 5 Điều 3 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Tình huống khẩn cấp trên không gian mạng là sự việc đang xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra ngay lập tức liên quan đến thông tin hoặc hành vi sử dụng công nghệ thông tin, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng mà nếu không được ngăn chặn, xử lý kịp thời có thể gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng đối với an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội hoặc tính mạng, tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân."
Do đó, tình huống khẩn cấp được xác định dựa trên nguy cơ và mức độ thiệt hại có thể xảy ra nếu thông tin hoặc hành vi vi phạm không được ngăn chặn, xử lý kịp thời. Đối với trường hợp này, Nghị định quy định thời hạn gỡ bỏ ngắn hơn so với trường hợp thông thường.
1.3. Phải thông báo sau khi đã gỡ bỏ thông tin vi phạm
Khoản 7 Điều 10 Nghị định 327/2026/NĐ-CP yêu cầu tổ chức, cá nhân thông báo kết quả thực hiện theo yêu cầu sau khi gỡ bỏ thông tin vi phạm.
Theo đó, người đăng tải, chia sẻ thông tin phải thực hiện đồng thời hai nghĩa vụ:
- Gỡ bỏ thông tin vi phạm trong thời hạn tương ứng là 24 giờ hoặc 06 giờ.
- Thông báo kết quả thực hiện theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
2. Những nội dung phải gỡ bỏ và biện pháp ngăn chặn thông tin tiếp tục lan truyền
2.1. Phải xóa những nội dung nào khi nhận được yêu cầu?
Khoản 6 Điều 10 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Có trách nhiệm gỡ bỏ thông tin vi phạm thuộc phạm vi quản lý khi có yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền; việc gỡ bỏ bao gồm xóa bỏ nội dung vi phạm, loại bỏ bản sao, đường dẫn và nội dung chia sẻ lại có liên quan."
Theo đó, việc gỡ bỏ phải bao gồm:
- Nội dung vi phạm: Thông tin thuộc phạm vi phải gỡ bỏ theo yêu cầu.
- Bản sao: Các bản sao của thông tin vi phạm có liên quan.
- Đường dẫn: Những đường dẫn liên quan đến thông tin vi phạm.
- Nội dung chia sẻ lại: Những nội dung đã được chia sẻ lại có liên quan đến thông tin vi phạm.
Nghĩa vụ gỡ bỏ không chỉ là xóa bài viết gốc. Tổ chức, cá nhân còn phải xử lý những bản sao, đường dẫn và nội dung chia sẻ lại có liên quan trong phạm vi quản lý của mình theo yêu cầu.
2.2. Người đăng tải, chia sẻ phải làm gì để ngăn thông tin vi phạm tiếp tục lan truyền?
Khoản 8 Điều 10 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Áp dụng các biện pháp kỹ thuật cần thiết để ngăn chặn việc tiếp tục lan truyền thông tin vi phạm trong phạm vi do mình quản lý, bao gồm: vô hiệu hóa chức năng chia sẻ, sao chép, phát tán; ngăn chặn việc đăng tải lại; loại bỏ liên kết, dữ liệu dẫn tới nội dung vi phạm theo yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền."
Với quy định trên, các biện pháp kỹ thuật cần thực hiện trong phạm vi quản lý gồm:
- Vô hiệu hóa chức năng chia sẻ thông tin vi phạm;
- Vô hiệu hóa chức năng sao chép, phát tán;
- Ngăn chặn việc đăng tải lại nội dung vi phạm;
- Loại bỏ liên kết và dữ liệu dẫn tới nội dung vi phạm.
Ngoài việc xóa thông tin đã đăng tải, tổ chức, cá nhân còn có trách nhiệm thực hiện các biện pháp cần thiết theo yêu cầu để hạn chế nội dung vi phạm tiếp tục được chia sẻ hoặc đăng tải lại.
2.3. Khi phát hiện thông tin vi phạm nhưng chưa nhận được yêu cầu gỡ bỏ thì phải làm gì?
Khoản 5 Điều 10 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định tổ chức, cá nhân soạn thảo, đăng tải, phát tán thông tin trên không gian mạng phải chủ động thông báo, tố giác đến lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, cơ quan có thẩm quyền, nhà cung cấp dịch vụ hoặc chủ quản hệ thống thông tin khi phát hiện thông tin hoặc hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng.
Bên cạnh đó, khoản 1 và khoản 2 Điều 10 quy định tổ chức, cá nhân:
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin do mình tạo lập, đăng tải, lưu trữ, truyền đưa, chia sẻ hoặc phát tán.
- Không được lợi dụng không gian mạng để tạo lập, đăng tải, chia sẻ, phát tán thông tin xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
Đối với người quản lý hội, nhóm, kênh, trang, khoản 10 Điều 10 Nghị định này còn yêu cầu chủ động loại bỏ thành viên, nội dung, liên kết, công cụ, bài viết và tài khoản có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
Do đó, thời hạn 24 giờ hoặc 06 giờ không có nghĩa tổ chức, cá nhân được phép tiếp tục duy trì, phát tán thông tin vi phạm cho đến khi hết thời hạn. Đây là thời hạn tối đa để thực hiện nghĩa vụ gỡ bỏ khi nhận được yêu cầu; các trách nhiệm chủ động phòng ngừa, phát hiện và xử lý vẫn phải được thực hiện theo quy định tương ứng.
3. Trách nhiệm cung cấp dữ liệu và xử lý khi không chấp hành yêu cầu gỡ bỏ
3.1. Thời hạn cung cấp thông tin, dữ liệu liên quan đến nội dung vi phạm
Khoản 9 Điều 10 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Cung cấp thông tin, tài liệu, dữ liệu điện tử liên quan đến nội dung vi phạm theo yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền; bảo đảm dữ liệu chính xác, đầy đủ, đúng định dạng và trong thời hạn chậm nhất là 24 giờ, tình huống khẩn cấp chậm nhất là 03 giờ."
Khi nhận được yêu cầu, tổ chức, cá nhân phải cung cấp thông tin, tài liệu và dữ liệu điện tử liên quan đến nội dung vi phạm, bảo đảm chính xác, đầy đủ và đúng định dạng.
Thời hạn thực hiện được xác định như sau:
|
Nghĩa vụ |
Trường hợp thông thường |
Tình huống khẩn cấp |
|
Gỡ bỏ thông tin vi phạm |
Chậm nhất 24 giờ |
Chậm nhất 06 giờ |
|
Cung cấp thông tin, tài liệu, dữ liệu điện tử |
Chậm nhất 24 giờ |
Chậm nhất 03 giờ |
3.2. Không gỡ bỏ thông tin đúng thời hạn có thể bị xử lý như thế nào?
Điểm h khoản 2 Điều 7 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Trường hợp doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, chủ quản hệ thống thông tin không thực hiện yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng về xóa bỏ thông tin vi phạm chậm nhất là 24 giờ (đối với tình huống khẩn cấp là 06 giờ) hoặc để ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng xảy ra, lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được phép truy cập xóa bỏ thông tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật, tin giả trên không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;"
Theo quy định trên, lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được phép truy cập xóa bỏ thông tin thuộc phạm vi quy định trong các trường hợp:
- Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, chủ quản hệ thống thông tin không thực hiện yêu cầu xóa bỏ trong thời hạn 24 giờ đối với trường hợp thông thường hoặc 06 giờ đối với tình huống khẩn cấp;
- Cần ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng xảy ra.
Ngoài ra, khoản 8 Điều 7 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định tổ chức, cá nhân vi phạm có thể bị xử lý theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, pháp luật hình sự và pháp luật có liên quan tùy theo tính chất, mức độ vi phạm. Đồng thời, chủ thể vi phạm phải khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây ra và thực hiện những trách nhiệm khác theo quy định.
Trên đây là nội dung về thời hạn người đăng tải, chia sẻ thông tin vi phạm trên mạng phải thực hiện việc gỡ bỏ. Vui lòng xem chi tiết Nghị định 327/2026/NĐ-CP trên LuatVietnam.vn để tra cứu đầy đủ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, thời hạn xử lý và các biện pháp ngăn chặn thông tin vi phạm trên không gian mạng.
RSS