Việc quản lý hội, nhóm, kênh, trang trên mạng không chỉ là kiểm duyệt bài đăng mà còn phải ngăn chặn nội dung vi phạm pháp luật. Vậy người quản lý hội, nhóm, kênh, trang trên mạng phải làm gì để kiểm soát nội dung vi phạm?
- 1. Trách nhiệm kiểm soát nội dung của người quản lý hội, nhóm, kênh, trang trên mạng
- 1.1. Phải ban hành, công khai nội quy và tổ chức kiểm duyệt nội dung
- Thứ nhất, ban hành và công khai quy tắc cộng đồng, nội quy quản lý
- Thứ hai, tổ chức kiểm duyệt nội dung phù hợp với quy mô hoạt động
- Thứ ba, chủ động loại bỏ các yếu tố có dấu hiệu vi phạm pháp luật
- 1.2. Không được lập hoặc duy trì hội, nhóm, kênh, trang nhằm thực hiện hành vi vi phạm
- 1.3. Phải xử lý tài khoản bị sử dụng trái phép hoặc phục vụ hành vi vi phạm
- 2. Cách xử lý khi phát hiện nội dung vi phạm trên hội, nhóm, kênh, trang
- 2.1. Phải gỡ bỏ thông tin vi phạm
- 2.2. Phải ngăn chặn việc tiếp tục chia sẻ, phát tán nội dung vi phạm
- 2.3. Trách nhiệm thông báo và cung cấp dữ liệu khi phát hiện vi phạm
- 3. Các biện pháp kiểm soát nội dung và xử lý khi không thực hiện trách nhiệm
- 3.1. Khi nào phải thiết lập cơ chế kiểm soát nội dung để phòng ngừa tái phạm?
- 3.2. Áp dụng biện pháp khi không kiểm soát, gỡ bỏ thông tin vi phạm

1. Trách nhiệm kiểm soát nội dung của người quản lý hội, nhóm, kênh, trang trên mạng
1.1. Phải ban hành, công khai nội quy và tổ chức kiểm duyệt nội dung
Khoản 10 Điều 10 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Không được lập, điều hành, duy trì hội, nhóm, kênh, trang, tài khoản trên không gian mạng nhằm mục đích thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hoặc tiếp tay cho hành vi vi phạm pháp luật; ban hành và công khai quy tắc cộng đồng, nội quy quản lý; tổ chức kiểm duyệt nội dung phù hợp với quy mô hoạt động của hội, nhóm, kênh, trang, tài khoản trên không gian mạng; chủ động loại bỏ thành viên, nội dung, liên kết, công cụ, bài viết, tài khoản có dấu hiệu vi phạm pháp luật."
Theo đó, người quản lý phải thực hiện các yêu cầu sau:
Thứ nhất, ban hành và công khai quy tắc cộng đồng, nội quy quản lý
Người quản lý phải xây dựng và công khai các quy tắc, nội quy áp dụng đối với hội, nhóm, kênh, trang hoặc tài khoản do mình quản lý. Đây là một trong những yêu cầu được đặt ra nhằm kiểm soát hoạt động và nội dung trên không gian mạng.
Thứ hai, tổ chức kiểm duyệt nội dung phù hợp với quy mô hoạt động
Người quản lý có trách nhiệm tổ chức kiểm duyệt nội dung của hội, nhóm, kênh, trang hoặc tài khoản. Việc kiểm duyệt phải phù hợp với quy mô hoạt động, nhưng không ấn định một phương thức kiểm duyệt chung cho tất cả các hội, nhóm, kênh, trang.
Thứ ba, chủ động loại bỏ các yếu tố có dấu hiệu vi phạm pháp luật
Các đối tượng phải chủ động loại bỏ bao gồm:
- Thành viên có dấu hiệu vi phạm;
- Nội dung vi phạm;
- Liên kết có dấu hiệu vi phạm;
- Công cụ phục vụ hành vi vi phạm;
- Bài viết có dấu hiệu vi phạm;
- Tài khoản có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
1.2. Không được lập hoặc duy trì hội, nhóm, kênh, trang nhằm thực hiện hành vi vi phạm
Tại khoản 10 Điều 10 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định, người quản lý không được lập, điều hành hoặc duy trì hội, nhóm, kênh, trang, tài khoản trên không gian mạng nhằm:
- Thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;
- Tiếp tay cho hành vi vi phạm pháp luật.
Bên cạnh đó, còn quy định tổ chức, cá nhân không được lợi dụng không gian mạng để tạo lập, đăng tải, chia sẻ, phát tán thông tin xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
Đồng thời, không được sử dụng công nghệ thông tin, phương tiện điện tử, trí tuệ nhân tạo, phần mềm hoặc công cụ kỹ thuật để giả mạo, xuyên tạc, lừa đảo, kích động, dụ dỗ, xúi giục, hướng dẫn hoặc tiếp tay cho hành vi vi phạm pháp luật.
Vì vậy, trách nhiệm của người quản lý không chỉ giới hạn ở việc kiểm duyệt bài viết của thành viên mà còn bao gồm việc không sử dụng hội, nhóm, kênh, trang để tổ chức hoặc hỗ trợ các hoạt động vi phạm.
1.3. Phải xử lý tài khoản bị sử dụng trái phép hoặc phục vụ hành vi vi phạm
Khoản 11 Điều 10 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Khóa, loại bỏ tài khoản, yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ khóa, loại bỏ tài khoản gắn với các thông tin đăng ký của tổ chức, cá nhân nếu phát hiện tài khoản bị sử dụng trái phép mà không do mình ủy quyền hoặc đang bị sử dụng vào mục đích vi phạm pháp luật."
Khi phát hiện tài khoản gắn với thông tin đăng ký của mình bị sử dụng trái phép hoặc đang được sử dụng để vi phạm pháp luật, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm:
- Khóa hoặc loại bỏ tài khoản;
- Yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ khóa hoặc loại bỏ tài khoản trong trường hợp cần thực hiện thông qua nhà cung cấp dịch vụ.
Quy định này nhằm xử lý việc sử dụng tài khoản trái phép hoặc sử dụng tài khoản vào mục đích vi phạm pháp luật.
2. Cách xử lý khi phát hiện nội dung vi phạm trên hội, nhóm, kênh, trang
2.1. Phải gỡ bỏ thông tin vi phạm
Khoản 6 Điều 10 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Có trách nhiệm gỡ bỏ thông tin vi phạm thuộc phạm vi quản lý khi có yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền; việc gỡ bỏ bao gồm xóa bỏ nội dung vi phạm, loại bỏ bản sao, đường dẫn và nội dung chia sẻ lại có liên quan."
Khi nhận được yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng hoặc cơ quan có thẩm quyền, tổ chức, cá nhân phải gỡ bỏ thông tin vi phạm thuộc phạm vi quản lý.
Việc gỡ bỏ không chỉ bao gồm xóa bài viết gốc mà còn phải xử lý:
- Nội dung vi phạm;
- Bản sao của nội dung vi phạm;
- Đường dẫn liên quan;
- Nội dung chia sẻ lại có liên quan.
Về thời hạn, khoản 7 Điều 10 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Thời hạn thực hiện nghĩa vụ gỡ bỏ: chậm nhất là 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu; tình huống khẩn cấp thực hiện trong thời hạn chậm nhất là 06 giờ; đồng thời có trách nhiệm thông báo kết quả thực hiện theo yêu cầu."
Như vậy, thời hạn gỡ bỏ được xác định như sau:
|
Trường hợp |
Thời hạn gỡ bỏ tối đa |
|
Yêu cầu gỡ bỏ thông thường |
24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu |
|
Yêu cầu gỡ bỏ trong tình huống khẩn cấp |
06 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu |
Sau khi thực hiện, tổ chức, cá nhân còn có trách nhiệm thông báo kết quả theo yêu cầu.
2.2. Phải ngăn chặn việc tiếp tục chia sẻ, phát tán nội dung vi phạm
Khoản 8 Điều 10 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Áp dụng các biện pháp kỹ thuật cần thiết để ngăn chặn việc tiếp tục lan truyền thông tin vi phạm trong phạm vi do mình quản lý, bao gồm: vô hiệu hóa chức năng chia sẻ, sao chép, phát tán; ngăn chặn việc đăng tải lại; loại bỏ liên kết, dữ liệu dẫn tới nội dung vi phạm theo yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền."
Theo quy định trên, các biện pháp kỹ thuật cần áp dụng trong phạm vi quản lý gồm:
- Vô hiệu hóa chức năng chia sẻ nội dung vi phạm;
- Vô hiệu hóa chức năng sao chép, phát tán;
- Ngăn chặn việc đăng tải lại nội dung vi phạm;
- Loại bỏ liên kết và dữ liệu dẫn tới nội dung vi phạm.
2.3. Trách nhiệm thông báo và cung cấp dữ liệu khi phát hiện vi phạm
Khoản 5 Điều 10 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định tổ chức, cá nhân phải chủ động thông báo, tố giác đến lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, cơ quan có thẩm quyền, nhà cung cấp dịch vụ hoặc chủ quản hệ thống thông tin khi phát hiện thông tin hoặc hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng.
Ngoài ra, khoản 9 Điều 10 quy định:
"Cung cấp thông tin, tài liệu, dữ liệu điện tử liên quan đến nội dung vi phạm theo yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền; bảo đảm dữ liệu chính xác, đầy đủ, đúng định dạng và trong thời hạn chậm nhất là 24 giờ, tình huống khẩn cấp chậm nhất là 03 giờ."
Theo đó, khi có yêu cầu, tổ chức, cá nhân phải cung cấp thông tin, tài liệu, dữ liệu điện tử liên quan đến nội dung vi phạm và bảo đảm:
- Thông tin, dữ liệu chính xác;
- Nội dung cung cấp đầy đủ;
- Dữ liệu đúng định dạng;
- Tuân thủ thời hạn theo quy định.
Thời hạn cung cấp được xác định như sau:
|
Trường hợp |
Thời hạn tối đa |
|
Yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu thông thường |
24 giờ |
|
Yêu cầu cung cấp trong tình huống khẩn cấp |
03 giờ |
3. Các biện pháp kiểm soát nội dung và xử lý khi không thực hiện trách nhiệm
3.1. Khi nào phải thiết lập cơ chế kiểm soát nội dung để phòng ngừa tái phạm?
Khoản 4 Điều 7 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định các trường hợp lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng có thể yêu cầu thiết lập cơ chế kiểm soát nội dung để phòng ngừa tái phạm.
Trong đó, các trường hợp liên quan trực tiếp đến việc quản lý nội dung gồm:
- Nền tảng, hệ thống thông tin cho phép người dùng dễ dàng tạo, chia sẻ nội dung vi phạm nhưng chưa có biện pháp kiểm soát phù hợp, dẫn đến nguy cơ cao tái diễn hành vi phát tán thông tin vi phạm.
- Nhà cung cấp dịch vụ, chủ quản hệ thống thông tin không có hoặc không thực hiện quy trình kiểm duyệt, cảnh báo, phát hiện nội dung vi phạm.
- Chủ quản hệ thống thông tin quản lý, điều hành trang thông tin điện tử, mạng xã hội nhưng không triển khai biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, gỡ bỏ hoặc xóa bỏ thông tin vi phạm pháp luật.
- Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, Internet hoặc chủ quản hệ thống thông tin để xảy ra nhiều lần hành vi đăng tải, chia sẻ, phát tán thông tin vi phạm pháp luật.
- Chủ quản hệ thống, nhà cung cấp dịch vụ chưa có quy trình quản lý nội dung hoặc biện pháp kỹ thuật tự động kiểm duyệt để ngăn chặn vi phạm tái diễn sau khi đã bị xử lý.
- Nền tảng không tích hợp biện pháp bảo vệ trẻ em hoặc cảnh báo nội dung không phù hợp với trẻ em theo quy định.
Khoản 4 Điều 7 Nghị định còn quy định các trường hợp liên quan đến lỗ hổng bảo mật, thiếu biện pháp quản lý, kỹ thuật theo tiêu chuẩn an ninh mạng và các trường hợp khác theo quyết định của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng.
3.2. Áp dụng biện pháp khi không kiểm soát, gỡ bỏ thông tin vi phạm
Khoản 2 Điều 7 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định trường hợp doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, chủ quản hệ thống thông tin không thực hiện yêu cầu xóa bỏ thông tin vi phạm chậm nhất trong 24 giờ, hoặc 06 giờ đối với tình huống khẩn cấp, lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được phép truy cập xóa bỏ thông tin trái pháp luật, thông tin sai sự thật, tin giả thuộc phạm vi quy định nhằm ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng.
Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 7 quy định việc phong tỏa, hạn chế hoạt động, đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc yêu cầu ngừng hoạt động của hệ thống thông tin, thu hồi tên miền trong một số trường hợp, trong đó có:
- Chủ quản hệ thống thông tin không triển khai biện pháp quản lý, kỹ thuật để phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và gỡ bỏ thông tin vi phạm theo yêu cầu.
- Chủ quản hệ thống thông tin thiết lập mạng xã hội, trang thông tin điện tử có nội dung vi phạm pháp luật và không đáp ứng các yêu cầu pháp lý liên quan.
- Chủ quản hệ thống thông tin, nhà cung cấp dịch vụ không hợp tác hoặc cản trở quá trình thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm.
Ngoài ra, khoản 8 Điều 7 quy định nhà cung cấp dịch vụ, chủ quản hệ thống thông tin, tổ chức, cá nhân vi phạm còn có thể bị xử lý theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, pháp luật hình sự và pháp luật có liên quan, tùy theo hành vi và mức độ vi phạm.
Như vậy, biện pháp xử lý cụ thể phụ thuộc vào chủ thể vi phạm, tính chất, mức độ vi phạm và các điều kiện áp dụng tương ứng, không phải mọi trường hợp người quản lý hội, nhóm không kiểm duyệt nội dung đều đương nhiên bị đình chỉ hoạt động hoặc thu hồi tên miền.
Trên đây là nội dung về trách nhiệm của người quản lý hội, nhóm, kênh, trang trên mạng trong việc kiểm soát nội dung vi phạm. Vui lòng xem chi tiết Nghị định 327/2026/NĐ-CP trên LuatVietnam.vn để tra cứu đầy đủ các biện pháp kiểm duyệt, thời hạn gỡ bỏ thông tin và trách nhiệm phối hợp xử lý vi phạm trên không gian mạng.
RSS