Nghị định 333/2026/NĐ-CP quy định doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng có trách nhiệm gỡ bỏ thông tin, dịch vụ, ứng dụng vi phạm pháp luật theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Vậy doanh nghiệp phải gỡ bỏ thông tin, dịch vụ, ứng dụng vi phạm pháp luật trên mạng trong bao lâu?
- 1. Doanh nghiệp phải gỡ bỏ thông tin, dịch vụ, ứng dụng vi phạm pháp luật trên mạng trong bao lâu?
- 1.1. Thời hạn gỡ bỏ thông tin, dịch vụ, ứng dụng vi phạm trong trường hợp thông thường
- 1.2. Thời hạn gỡ bỏ trong trường hợp khẩn cấp
- 1.3. Những doanh nghiệp nào phải thực hiện yêu cầu gỡ bỏ trong thời hạn 24 giờ?
- 2. Doanh nghiệp có phải tạm ngừng cung cấp dịch vụ đối với người đăng tải thông tin vi phạm pháp luật không?
- 3. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet phải phối hợp ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin vi phạm như thế nào?
1. Doanh nghiệp phải gỡ bỏ thông tin, dịch vụ, ứng dụng vi phạm pháp luật trên mạng trong bao lâu?
Theo điểm a và điểm b khoản 4 Điều 16 Nghị định 333/2026/NĐ-CP, việc ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin, dịch vụ, ứng dụng vi phạm pháp luật về an ninh thông tin mạng phải được hoàn thành chậm nhất trong 24 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an. Trường hợp khẩn cấp đe dọa xâm hại an ninh quốc gia, thời hạn thực hiện được rút ngắn xuống còn 06 giờ. Cụ thể như sau:
1.1. Thời hạn gỡ bỏ thông tin, dịch vụ, ứng dụng vi phạm trong trường hợp thông thường
Điểm a và điểm b khoản 4 Điều 16 Nghị định 333/2026/NĐ-CP quy định hoạt động ngăn chặn, xử lý thông tin, dịch vụ, ứng dụng vi phạm pháp luật về an ninh thông tin mạng bao gồm:
“a) Hạn chế, ngăn chặn truy cập, xóa bỏ thông tin, gỡ bỏ dịch vụ, ứng dụng tại Việt Nam đối với thông tin, dịch vụ, ứng dụng vi phạm pháp luật về an ninh thông tin mạng theo yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an;
b) Việc thực hiện yêu cầu quy định tại điểm a khoản này phải hoàn thành chậm nhất trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu; trường hợp khẩn cấp đe dọa xâm hại an ninh quốc gia thì phải hoàn thành chậm nhất trong thời hạn 06 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu;”
Như vậy, trong trường hợp thông thường, doanh nghiệp phải hoàn thành yêu cầu ngăn chặn, xử lý thông tin, dịch vụ, ứng dụng vi phạm pháp luật trong thời hạn tối đa 24 giờ.
Thời hạn này được tính từ thời điểm doanh nghiệp nhận được yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an.
Các biện pháp được quy định bao gồm hạn chế, ngăn chặn truy cập, xóa bỏ thông tin và gỡ bỏ dịch vụ, ứng dụng vi phạm pháp luật về an ninh thông tin mạng tại Việt Nam.
1.2. Thời hạn gỡ bỏ trong trường hợp khẩn cấp
Đối với trường hợp khẩn cấp, điểm b khoản 4 Điều 16 Nghị định 333/2026/NĐ-CP quy định:
“[...] trường hợp khẩn cấp đe dọa xâm hại an ninh quốc gia thì phải hoàn thành chậm nhất trong thời hạn 06 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu;”
Theo đó, thời hạn tối đa 06 giờ được áp dụng đối với trường hợp khẩn cấp đe dọa xâm hại an ninh quốc gia.

1.3. Những doanh nghiệp nào phải thực hiện yêu cầu gỡ bỏ trong thời hạn 24 giờ?
Bên cạnh quy định tại Điều 16, khoản 2 Điều 18 Nghị định 333/2026/NĐ-CP còn xác định cụ thể các nhóm doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện biện pháp bảo đảm an ninh thông tin mạng, bao gồm:
- Doanh nghiệp viễn thông;
- Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet;
- Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ lưu trữ web (hosting);
- Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung tâm dữ liệu (data center);
- Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ứng dụng viễn thông.
Đối với các doanh nghiệp này, điểm a khoản 2 Điều 18 Nghị định 333/2026/NĐ-CP quy định:
“Thực hiện ngăn chặn, gỡ bỏ các nội dung, dịch vụ, ứng dụng trên mạng vi phạm pháp luật chậm nhất là 24 giờ kể từ khi có yêu cầu bằng văn bản, điện thoại hoặc thư điện tử của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an;”
Như vậy, các doanh nghiệp thuộc nhóm nêu trên phải thực hiện ngăn chặn, gỡ bỏ nội dung, dịch vụ, ứng dụng vi phạm pháp luật chậm nhất trong 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu.
2. Doanh nghiệp có phải tạm ngừng cung cấp dịch vụ đối với người đăng tải thông tin vi phạm pháp luật không?
Ngoài việc ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin, dịch vụ, ứng dụng vi phạm, Nghị định 333/2026/NĐ-CP còn quy định trách nhiệm từ chối hoặc tạm ngừng cung cấp dịch vụ đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm.
Cụ thể, điểm b khoản 2 Điều 18 Nghị định 333/2026/NĐ-CP quy định doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, dịch vụ lưu trữ web, dịch vụ trung tâm dữ liệu và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ứng dụng viễn thông có trách nhiệm:
“Từ chối cung cấp hoặc tạm ngừng cung cấp dịch vụ viễn thông, dịch vụ Internet, các dịch vụ khác đối với tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ để đăng tải thông tin vi phạm pháp luật trên mạng theo yêu cầu hợp lệ của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an;”
Như vậy, doanh nghiệp thuộc các nhóm nêu trên phải thực hiện việc từ chối hoặc tạm ngừng cung cấp dịch vụ đối với tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ để đăng tải thông tin vi phạm pháp luật trên mạng khi có yêu cầu hợp lệ của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an.
3. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet phải phối hợp ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin vi phạm như thế nào?
Theo điểm c và điểm d khoản 2 Điều 18 Nghị định 333/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp viễn thông và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet còn phải thực hiện các trách nhiệm sau:
“c) Doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet kết nối, nhận yêu cầu điều phối ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin xấu độc, vi phạm pháp luật, báo cáo kết quả qua hệ thống kỹ thuật và thực hiện các biện pháp xử lý khác theo yêu cầu của Bộ Công an;
d) Doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet có trách nhiệm bảo đảm hạ tầng kỹ thuật, hệ thống kết nối, năng lực xử lý, truyền tải, chia sẻ thông tin, dữ liệu và các điều kiện cần thiết khác trong quá trình cung cấp dịch vụ để đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh thông tin mạng, phục vụ triển khai các giải pháp, biện pháp bảo vệ an ninh mạng theo quy định của pháp luật và yêu cầu hợp lệ của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an.”
Như vậy, bên cạnh việc thực hiện yêu cầu ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin vi phạm, doanh nghiệp viễn thông và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet còn có trách nhiệm kết nối, tiếp nhận yêu cầu điều phối và báo cáo kết quả xử lý qua hệ thống kỹ thuật.
Đồng thời, doanh nghiệp phải bảo đảm hạ tầng kỹ thuật, hệ thống kết nối, năng lực xử lý, truyền tải, chia sẻ thông tin, dữ liệu và các điều kiện cần thiết để triển khai biện pháp bảo vệ an ninh mạng.
Ngoài ra, khoản 1 Điều 18 Nghị định 333/2026/NĐ-CP quy định:
“Doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân cung cấp, sử dụng dịch vụ trên không gian mạng có trách nhiệm phối hợp với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc triển khai các hoạt động, biện pháp bảo đảm an ninh thông tin mạng.”
Theo đó, trách nhiệm phối hợp thực hiện các hoạt động, biện pháp bảo đảm an ninh thông tin mạng không chỉ đặt ra đối với doanh nghiệp viễn thông và Internet mà còn được quy định đối với doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân cung cấp, sử dụng dịch vụ trên không gian mạng.
Trên đây là nội dung về “Doanh nghiệp phải gỡ bỏ thông tin, dịch vụ, ứng dụng vi phạm pháp luật trên mạng trong bao lâu?”. Bạn đọc có thể tra cứu toàn văn Nghị định 333/2026/NĐ-CP trên LuatVietnam.vn để tìm hiểu chi tiết các quy định về thời hạn ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin vi phạm và trách nhiệm bảo đảm an ninh thông tin mạng của doanh nghiệp.
RSS