Mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định về dạy thêm, học thêm [Đề xuất]

Dự thảo Nghị định quy định xử phạt VPHC lĩnh vực giáo dục đang được Bộ Giáo dục và Đào tạo lấy ý kiến lần đầu đề xuất toàn diện về chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm trong quản lý và tổ chức dạy thêm, học thêm.

1. Phạt cảnh cáo đối với một số vi phạm về báo cáo, công khai và lưu giữ hồ sơ

Theo khoản 1 Điều 23 dự thảo Nghị định quy định xử phạt VPHC lĩnh vực giáo dục, hình thức phạt cảnh cáo được áp dụng đối với một số hành vi vi phạm chưa gây hậu quả nghiêm trọng.

Cụ thể, giáo viên đang dạy học tại nhà trường tham gia dạy thêm ngoài nhà trường nhưng báo cáo không đầy đủ hoặc cập nhật không kịp thời với Hiệu trưởng về việc tham gia dạy thêm theo quy định, nhưng chưa làm phát sinh xung đột lợi ích sẽ bị xử phạt cảnh cáo.

Bên cạnh đó, các hành vi thuộc một trong các trường hợp dưới đây cũng thuộc trường hợp bị áp dụng hình thức xử phạt này:

- Cơ sở dạy thêm công khai không đầy đủ hoặc không đúng thời hạn các nội dung phải công khai theo quy định nhưng chưa làm sai lệch thông tin về môn học, thời lượng, địa điểm, hình thức, thời gian dạy thêm, danh sách người dạy thêm hoặc mức thu tiền học thêm;

- Nhà trường hoặc cơ sở dạy thêm lưu giữ hồ sơ tổ chức dạy thêm, học thêm không đầy đủ nhưng chưa làm mất hoặc sai lệch hồ sơ, dữ liệu về hoạt động dạy thêm, học thêm.

muc-phat-doi-voi-hanh-vi-vi-pham-quy-dinh-ve-day-them-hoc-them

2. Phạt từ 2 - 5 triệu đồng nếu giáo viên không báo cáo hoặc báo cáo không trung thực việc dạy thêm

Theo khoản 2 Điều 23 dự thảo, giáo viên đang dạy học tại nhà trường tham gia dạy thêm ngoài nhà trường nhưng không báo cáo, báo cáo không đầy đủ hoặc không cập nhật kịp thời với Hiệu trưởng về môn học, địa điểm, hình thức dạy thêm, mối quan hệ với chủ thể đứng tên đăng ký kinh doanh cơ sở dạy thêm hoặc thời gian tham gia dạy thêm theo quy định sẽ bị phạt tiền từ 02 - 05 triệu đồng.

Ngoài ra, giáo viên báo cáo không trung thực về việc tham gia dạy thêm ngoài nhà trường hoặc về mối quan hệ với chủ thể đứng tên đăng ký kinh doanh cơ sở dạy thêm cũng bị xử phạt với mức tiền nêu trên. 

3. Phạt đến 10 triệu đồng đối với nhiều vi phạm trong tổ chức dạy thêm

Theo khoản 3 Điều 23, dự thảo đề xuất phạt tiền từ 5 - 10 triệu đồng đối với nhiều hành vi vi phạm trong quá trình tổ chức dạy thêm tại nhà trường.

Trong đó có các hành vi như tổ chức dạy thêm không đúng đối tượng học sinh được học thêm theo quy định; tổ chức dạy thêm vượt quá thời lượng khi chưa được Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo cho phép; xếp lớp dạy thêm quá 45 học sinh/lớp hoặc không xếp lớp theo từng môn học của từng khối lớp.

Ngoài ra, nhà trường không công khai kế hoạch tổ chức dạy thêm, học thêm; cơ sở dạy thêm công khai không chính xác hoặc không cập nhật thường xuyên các nội dung phải công khai trước khi tuyển sinh; không cụ thể hóa trách nhiệm và hành vi ứng xử của nhà giáo khi tham gia hoặc quản lý hoạt động dạy thêm trong quy tắc ứng xử của nhà giáo cũng thuộc diện bị xử phạt theo khoản này.

4. Giáo viên dạy thêm chính học sinh mình đang dạy có thể bị phạt đến 20 triệu đồng

Một trong những nội dung đáng chú ý tại khoản 4 Điều 23 là đề xuất phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng đối với giáo viên đang dạy học tại nhà trường nếu dạy thêm ngoài nhà trường có thu tiền đối với chính học sinh mà mình đang được nhà trường phân công giảng dạy theo kế hoạch giáo dục của nhà trường.

Mức phạt này cũng áp dụng đối với các hành vi:

- Giáo viên thuộc trường công lập tham gia quản lý, điều hành hoạt động dạy thêm ngoài nhà trường;

- Dạy thêm hoặc tổ chức dạy thêm đối với học sinh tiểu học ngoài các trường hợp được phép;

- Xếp giờ dạy thêm trong nhà trường xen kẽ với thời khóa biểu chính khóa hoặc dạy thêm trước nội dung so với phân phối chương trình môn học trong kế hoạch giáo dục của nhà trường;

- Không thiết lập hoặc không công khai số điện thoại đường dây nóng để tiếp nhận, xử lý kiến nghị, phản ánh về hoạt động dạy thêm, học thêm.

5. Đề xuất phạt đến 30 triệu đồng đối với tổ chức, cá nhân tổ chức dạy thêm trái quy định

Theo khoản 5 Điều 23, tổ chức, cá nhân tổ chức dạy thêm ngoài nhà trường có thể bị phạt tiền từ 20 - 30 triệu đồng nếu bố trí, ký hợp đồng hoặc thỏa thuận để giáo viên đang dạy học tại nhà trường dạy thêm có thu tiền đối với chính học sinh mà giáo viên đó đang được phân công giảng dạy theo kế hoạch giáo dục của nhà trường; bố trí, thỏa thuận hoặc cho phép giáo viên thuộc trường công lập tham gia quản lý, điều hành hoạt động dạy thêm ngoài nhà trường.

Đồng thời, hành vi cắt giảm nội dung dạy học theo kế hoạch giáo dục của nhà trường để đưa vào dạy thêm; giáo viên thuộc trường công lập tham gia quản lý, điều hành việc dạy thêm ngoài nhà trường; cơ sở dạy thêm hoặc tổ chức, cá nhân tổ chức dạy thêm lợi dụng quan hệ với giáo viên đang dạy học tại nhà trường để tổ chức dạy thêm gây xung đột lợi ích cũng bị xử phạt theo khoản này. 

6. Đề xuất phạt đến 50 triệu đồng nếu tổ chức dạy thêm có thu tiền khi chưa đăng ký kinh doanh

to-chuc-day-them-khi-chua-dang-ky-kinh-doanh
Tổ chức dạy thêm có thu tiền nhưng chưa đăng ký kinh doanh bị phạt nặng (Ảnh minh họa)

Theo khoản 6 Điều 23 dự thảo, phạt tiền từ 30 - 50 triệu đồng đối với hành vi tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường có thu tiền khi chưa đáp ứng yêu cầu về đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.

Ngoài hành vi trên, mức phạt từ 30 - 50 triệu đồng còn áp dụng đối với trường hợp:

- Cho phép, bố trí hoặc thỏa thuận để giáo viên thuộc trường công lập tham gia quản lý, điều hành hoạt động dạy thêm ngoài nhà trường;

- Tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm nhằm trục lợi, ép buộc học sinh học thêm hoặc lôi kéo học sinh học thêm trái quy định;

- Tiếp tục tổ chức dạy thêm, học thêm sau khi đã bị cơ quan có thẩm quyền yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm. 

7. Có thể bị đình chỉ hoạt động dạy thêm đến 12 tháng

Không chỉ bị xử phạt bằng tiền, theo khoản 7 Điều 23, tổ chức, cá nhân vi phạm còn có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động dạy thêm, học thêm.

Cụ thể, lớp học thêm hoặc địa điểm dạy thêm có hành vi vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 23 có thể bị đình chỉ hoạt động từ 01 - 03 tháng; trường hợp vi phạm quy định tại khoản 5 có thể bị đình chỉ từ 03 - 06 tháng.

Đối với cơ sở dạy thêm có hành vi vi phạm quy định tại khoản 6 Điều 23, thời gian đình chỉ hoạt động được đề xuất từ 06 - 12 tháng.

8. Buộc hoàn trả tiền học thêm thu trái quy định và nộp lại số lợi bất hợp pháp

Theo khoản 8 Điều 23 dự thảo, ngoài hình thức xử phạt chính và xử phạt bổ sung, tổ chức, cá nhân vi phạm còn phải thực hiện nhiều biện pháp khắc phục hậu quả.

Theo đó, người vi phạm có thể bị buộc chấm dứt việc dạy thêm, học thêm trái quy định; công khai, cập nhật đầy đủ thông tin về hoạt động dạy thêm; báo cáo đầy đủ việc tham gia dạy thêm của giáo viên; bố trí lại lớp học, thời khóa biểu, thời lượng và đối tượng học thêm đúng quy định; giảm số lượng học sinh trong lớp dạy thêm; dạy bù phần nội dung chương trình chính khóa đã bị cắt giảm để đưa vào dạy thêm; thu hồi, loại bỏ hoặc hủy bỏ tài liệu, học liệu dạy thêm có nội dung vi phạm pháp luật.

Đáng chú ý, dự thảo còn đề xuất buộc hoàn trả cho học sinh, cha mẹ hoặc người giám hộ các khoản tiền đã thu trái quy định; trường hợp không hoàn trả được thì phải nộp vào ngân sách nhà nước. Đồng thời, tổ chức, cá nhân vi phạm còn phải nộp lại số lợi bất hợp pháp có được từ hành vi vi phạm và thực hiện các biện pháp bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của học sinh, cha mẹ hoặc người giám hộ, người dạy thêm và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Cần lưu ý, theo khoản 2 Điều 4 dự thảo, các mức phạt tiền quy định tại Chương II là mức phạt áp dụng đối với cá nhân, trừ trường hợp có quy định khác; trường hợp tổ chức vi phạm thì mức phạt bằng 02 lần mức phạt đối với cá nhân.

Trên đây là dự kiến mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định về dạy thêm, học thêm.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Điểm mới dự thảo Luật sửa đổi Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp

Điểm mới dự thảo Luật sửa đổi Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp

Điểm mới dự thảo Luật sửa đổi Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp

Dự thảo Luật sửa đổi Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp có những điểm mới đáng chú ý nào? Bài viết dưới đây sẽ cung cấp thông tin chi tiết.

Mức hỗ trợ khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi mới nhất

Mức hỗ trợ khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi mới nhất

Mức hỗ trợ khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi mới nhất

Chi phí sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi là vấn đề được nhiều hộ gia đình, cá nhân và tổ chức quan tâm, nhất là trong hoạt động sản xuất nông nghiệp. Vậy quy định mới nhất đang đặt ra cơ chế hỗ trợ như thế nào?

Thủ tục chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế mới nhất

Thủ tục chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế mới nhất

Thủ tục chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế mới nhất

Chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế là kênh huy động vốn quan trọng nhưng đòi hỏi doanh nghiệp phải tuân thủ chặt chẽ về hồ sơ, công bố thông tin và báo cáo kết quả phát hành. Tùy từng loại hình doanh nghiệp, trình tự thực hiện sẽ có những điểm khác nhau cần lưu ý.

Bảng so sánh Thông tư 24/2026/TT-BNNMT và Thông tư 02/2022/TT-BTNMT về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì

Bảng so sánh Thông tư 24/2026/TT-BNNMT và Thông tư 02/2022/TT-BTNMT về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì

Bảng so sánh Thông tư 24/2026/TT-BNNMT và Thông tư 02/2022/TT-BTNMT về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì

Bảng so sánh Thông tư 24/2026/TT-BNNMT và Thông tư 02/2022/TT-BTNMT do LuatVietnam thực hiện giúp đối chiếu nhanh, rõ ràng các quy định mới và cũ về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu.

Bảng so sánh Thông tư 32/2026/TT-BXD và Thông tư 10/2021/TT-BXD về quản lý chất lượng, thi công xây dựng

Bảng so sánh Thông tư 32/2026/TT-BXD và Thông tư 10/2021/TT-BXD về quản lý chất lượng, thi công xây dựng

Bảng so sánh Thông tư 32/2026/TT-BXD và Thông tư 10/2021/TT-BXD về quản lý chất lượng, thi công xây dựng

Bảng so sánh Thông tư 32/2026/TT-BXD và Thông tư 10/2021/TT-BXD về quản lý chất lượng, thi công xây dựng  giúp người đọc dễ dàng nhận diện nội dung thay đổi, tiết kiệm thời gian nghiên cứu và hạn chế bỏ sót các quy định quan trọng khi áp dụng.