Hệ thống thông tin trên không gian mạng có thể bị ngăn chặn truy cập từ lãnh thổ Việt Nam nếu thuộc các trường hợp vi phạm quy định về an ninh mạng. Vậy hệ thống thông tin vi phạm bị ngăn chặn truy cập từ Việt Nam trong những trường hợp nào?
- 1. Các trường hợp hệ thống thông tin bị ngăn chặn truy cập từ lãnh thổ Việt Nam
- 1.1. Hệ thống thông tin đặt tại nước ngoài không chấp hành yêu cầu gỡ bỏ thông tin vi phạm
- 1.2. Hệ thống thông tin phát tán mã độc hoặc thực hiện tấn công mạng
- 1.3. Hệ thống tiếp tục phát tán thông tin vi phạm sau khi đã bị xử lý
- 1.4. Nền tảng xuyên biên giới phát tán thông tin có nội dung vi phạm
- 1.5. Hệ thống bị lợi dụng để gián điệp mạng, khủng bố mạng hoặc phá hoại hệ thống thông tin quan trọng
- 1.6. Hệ thống đặt tại nước ngoài vi phạm quy định về xử lý dữ liệu cá nhân
- 1.7. Doanh nghiệp nước ngoài không thực hiện nghĩa vụ về hiện diện và lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam
- 2. Thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn truy cập từ Việt Nam
- 2.1. Cơ quan có thẩm quyền thực hiện biện pháp xử lý
- 2.2. Việc ngăn chặn truy cập phải tuân thủ nguyên tắc nào?
- 3. Trách nhiệm của chủ quản hệ thống thông tin trước và khi bị xử lý
- 3.1. Phải triển khai biện pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm
- 3.2. Phải làm gì khi phát hiện hệ thống bị lợi dụng thực hiện hành vi vi phạm?

1. Các trường hợp hệ thống thông tin bị ngăn chặn truy cập từ lãnh thổ Việt Nam
1.1. Hệ thống thông tin đặt tại nước ngoài không chấp hành yêu cầu gỡ bỏ thông tin vi phạm
Điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Chủ quản hệ thống thông tin đặt tại nước ngoài không tuân thủ yêu cầu gỡ bỏ thông tin vi phạm, không cung cấp dữ liệu phục vụ công tác điều tra của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng;"
Theo đó, hệ thống thông tin đặt tại nước ngoài có thể bị ngăn chặn truy cập từ Việt Nam khi chủ quản hệ thống:
- Không tuân thủ yêu cầu gỡ bỏ thông tin vi phạm;
- Không cung cấp dữ liệu phục vụ công tác điều tra của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng.
Quy định này áp dụng đối với chủ quản hệ thống thông tin đặt tại nước ngoài có các hành vi không chấp hành yêu cầu nêu trên.
1.2. Hệ thống thông tin phát tán mã độc hoặc thực hiện tấn công mạng
Điểm b khoản 5 Điều 7 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Hệ thống thông tin có dấu hiệu phát tán mã độc, chiếm quyền điều khiển thiết bị; thực hiện tấn công mạng hoặc khủng bố mạng từ lãnh thổ nước ngoài ảnh hưởng đến hạ tầng quốc gia;"
Như vậy, hệ thống thông tin thuộc diện có thể bị ngăn chặn truy cập khi có dấu hiệu:
- Phát tán mã độc;
- Chiếm quyền điều khiển thiết bị;
- Thực hiện tấn công mạng từ lãnh thổ nước ngoài ảnh hưởng đến hạ tầng quốc gia;
- Thực hiện khủng bố mạng từ lãnh thổ nước ngoài ảnh hưởng đến hạ tầng quốc gia.
Đối với trường hợp này, Nghị định đề cập cả dấu hiệu phát tán mã độc, chiếm quyền điều khiển thiết bị và hành vi tấn công mạng, khủng bố mạng ảnh hưởng đến hạ tầng quốc gia.
1.3. Hệ thống tiếp tục phát tán thông tin vi phạm sau khi đã bị xử lý
Điểm c khoản 5 Điều 7 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Hệ thống thông tin phục vụ hành vi cung cấp, chia sẻ, phát tán thông tin trên không gian mạng có nội dung vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội đã bị xử lý nhưng tiếp tục tái phạm; chủ quản hệ thống không tuân thủ yêu cầu ngăn chặn, gỡ bỏ, xóa bỏ thông tin trái pháp luật của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng;"
Các trường hợp này liên quan đến những hành vi:
- Sử dụng hệ thống để cung cấp, chia sẻ, phát tán thông tin vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội;
- Hệ thống đã bị xử lý nhưng tiếp tục tái phạm;
- Chủ quản hệ thống không tuân thủ yêu cầu ngăn chặn, gỡ bỏ, xóa bỏ thông tin trái pháp luật của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng.
1.4. Nền tảng xuyên biên giới phát tán thông tin có nội dung vi phạm
Điểm d khoản 5 Điều 7 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Nền tảng xuyên biên giới cung cấp, chia sẻ, phát tán thông tin có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kích động bạo loạn, gây rối trật tự công cộng;"
Theo đó, nền tảng xuyên biên giới có thể bị ngăn chặn truy cập từ lãnh thổ Việt Nam khi cung cấp, chia sẻ hoặc phát tán:
- Thông tin có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- Thông tin kích động bạo loạn;
- Thông tin gây rối trật tự công cộng.
1.5. Hệ thống bị lợi dụng để gián điệp mạng, khủng bố mạng hoặc phá hoại hệ thống thông tin quan trọng
Điểm đ khoản 5 Điều 7 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Hệ thống thông tin bị lợi dụng thực hiện hoạt động gián điệp mạng, khủng bố mạng hoặc tấn công xâm nhập trái phép, phá hoại hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia nhưng chủ quản hệ thống không có biện pháp kiểm soát hoặc khắc phục sự cố kỹ thuật;"
Trường hợp này bao gồm hệ thống thông tin bị lợi dụng để:
- Thực hiện hoạt động gián điệp mạng;
- Thực hiện hoạt động khủng bố mạng;
- Tấn công xâm nhập trái phép;
- Phá hoại hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
Đồng thời, chủ quản hệ thống không có biện pháp kiểm soát hoặc khắc phục sự cố kỹ thuật. Như vậy, quy định không chỉ đề cập hành vi lợi dụng hệ thống để thực hiện hoạt động vi phạm mà còn gắn với việc chủ quản hệ thống không thực hiện biện pháp kiểm soát hoặc khắc phục sự cố kỹ thuật.
1.6. Hệ thống đặt tại nước ngoài vi phạm quy định về xử lý dữ liệu cá nhân
Điểm e khoản 5 Điều 7 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Hệ thống thông tin đặt tại nước ngoài xử lý dữ liệu cá nhân của công dân Việt Nam không tuân thủ các quy định pháp luật Việt Nam; chủ quản hệ thống không chấp hành quyết định xử phạt hành chính của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền;"
Theo quy định, hệ thống thông tin đặt tại nước ngoài có thể bị ngăn chặn truy cập khi:
- Xử lý dữ liệu cá nhân của công dân Việt Nam không tuân thủ quy định pháp luật Việt Nam;
- Chủ quản hệ thống không chấp hành quyết định xử phạt hành chính của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền.
1.7. Doanh nghiệp nước ngoài không thực hiện nghĩa vụ về hiện diện và lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam
Điểm g khoản 5 Điều 7 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Doanh nghiệp nước ngoài khi cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet, các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam không đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam, không thực hiện nghĩa vụ lưu trữ dữ liệu theo quy định của pháp luật Việt Nam;"
Trường hợp này áp dụng đối với doanh nghiệp nước ngoài cung cấp dịch vụ trên:
- Mạng viễn thông;
- Mạng Internet;
- Các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam.
Nghị định đề cập hành vi không đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam và không thực hiện nghĩa vụ lưu trữ dữ liệu theo quy định pháp luật Việt Nam. Việc xác định doanh nghiệp có nghĩa vụ đặt chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc lưu trữ dữ liệu hay không phải căn cứ vào quy định pháp luật áp dụng đối với doanh nghiệp đó. Không thể hiểu rằng mọi doanh nghiệp nước ngoài cung cấp dịch vụ trực tuyến đều mặc nhiên phải thực hiện các nghĩa vụ giống nhau.
Điểm h khoản 5 Điều 7 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Trường hợp khác theo quyết định của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng."
Như vậy, ngoài 07 trường hợp cụ thể nêu trên, Nghị định còn quy định các trường hợp khác theo quyết định của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng. Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn truy cập phải tuân thủ quy định pháp luật và thẩm quyền tương ứng.
2. Thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn truy cập từ Việt Nam
2.1. Cơ quan có thẩm quyền thực hiện biện pháp xử lý
Khoản 1 Điều 9 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý theo thẩm quyền được giao và quy định pháp luật có liên quan.
Bên cạnh đó, khoản 4 Điều 9 quy định lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng có thẩm quyền yêu cầu hoặc phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ, chủ quản hệ thống thông tin thực hiện các biện pháp như:
- Chặn truy cập;
- Vô hiệu hóa, đóng tài khoản số;
- Phong tỏa, mở phong tỏa tài khoản số;
- Tạm dừng giao dịch, hoạt động của tài khoản số;
- Định danh, xác thực lại tài khoản số;
- Tạm đình chỉ, đình chỉ hoạt động của trang thông tin điện tử, hệ thống thông tin, phương tiện điện tử hoặc hoạt động cung cấp dịch vụ;
- Thu hồi giấy phép hoạt động theo quy định pháp luật.
2.2. Việc ngăn chặn truy cập phải tuân thủ nguyên tắc nào?
Khoản 3 Điều 4 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, gỡ bỏ, xử lý thông tin và hành vi [...] phải tuân thủ quy định của Luật An ninh mạng và pháp luật có liên quan; bảo đảm chính xác, kịp thời, đúng thẩm quyền."
Theo đó, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn truy cập phải bảo đảm:
- Tuân thủ Luật An ninh mạng và pháp luật liên quan;
- Chính xác;
- Kịp thời;
- Đúng thẩm quyền.
Ngoài ra, khoản 5 Điều 4 Nghị định yêu cầu việc áp dụng biện pháp quản lý, ngăn chặn phải khách quan, đúng pháp luật và hạn chế tối đa tác động không cần thiết đến hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp và các chủ thể tham gia không gian mạng.
3. Trách nhiệm của chủ quản hệ thống thông tin trước và khi bị xử lý
3.1. Phải triển khai biện pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm
Khoản 1 Điều 6 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Chủ quản hệ thống thông tin và nhà cung cấp dịch vụ có trách nhiệm chủ động triển khai biện pháp kỹ thuật, quản lý để kiểm soát thông tin trên hệ thống; kịp thời thông báo, phối hợp lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền xử lý khi phát hiện thông tin thuộc các nhóm nội dung quy định tại Điều 13 Luật An ninh mạng."
Đồng thời, khoản 2 Điều 6 quy định các biện pháp quản lý, kỹ thuật mà nhà cung cấp dịch vụ và chủ quản hệ thống thông tin phải áp dụng, gồm:
- Rà soát, nhận diện, đánh giá nguy cơ, dấu hiệu và phương thức thực hiện hành vi vi phạm;
- Thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát, cảnh báo sớm và tiếp nhận phản ánh, tố giác;
- Ngăn ngừa việc lợi dụng tài khoản số, danh tính điện tử, phương tiện điện tử và hạ tầng kỹ thuật để vi phạm pháp luật;
- Quản lý, phân quyền truy cập, ghi nhận và lưu giữ nhật ký hệ thống, dữ liệu điện tử cần thiết;
- Rà soát, loại bỏ hoặc vô hiệu hóa các công cụ, phần mềm, tài khoản, đường dẫn, dữ liệu có dấu hiệu trực tiếp phục vụ hành vi vi phạm trong phạm vi quản lý;
- Áp dụng biện pháp bảo vệ trẻ em và những người có nguy cơ bị xâm hại trên không gian mạng;
- Tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao kỹ năng phòng ngừa và ứng phó với hành vi vi phạm;
- Thực hiện yêu cầu, hướng dẫn, cảnh báo của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền.
Theo đó, việc triển khai các biện pháp phòng ngừa phải được thực hiện chủ động, thay vì chỉ xử lý khi hệ thống đã phát sinh vi phạm.
3.2. Phải làm gì khi phát hiện hệ thống bị lợi dụng thực hiện hành vi vi phạm?
Khoản 3 Điều 6 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Khi phát hiện dấu hiệu hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng, nhà cung cấp dịch vụ, chủ quản hệ thống thông tin và tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm áp dụng ngay biện pháp cần thiết trong phạm vi quản lý của mình để hạn chế hậu quả, bảo toàn dữ liệu điện tử [...] và kịp thời thông báo cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật."
Do đó, khi phát hiện dấu hiệu vi phạm, chủ quản hệ thống thông tin phải:
- Áp dụng ngay các biện pháp cần thiết trong phạm vi quản lý để hạn chế hậu quả;
- Bảo toàn dữ liệu điện tử, bảo đảm dữ liệu không bị mất, sai lệch, hư hỏng hoặc tổn hại;
- Kịp thời thông báo cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền.
Đối với tình huống khẩn cấp, khoản 1 Điều 13 Nghị định này còn yêu cầu các chủ thể có liên quan thông báo ngay cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, bảo toàn hiện trạng hệ thống và chứng cứ điện tử, đồng thời chấp hành ngay các yêu cầu phối hợp, kỹ thuật và ngăn chặn.
Trên đây là nội dung về các trường hợp hệ thống thông tin vi phạm bị ngăn chặn truy cập từ Việt Nam. Vui lòng xem chi tiết Nghị định 327/2026/NĐ-CP trên LuatVietnam.vn để tra cứu đầy đủ các trường hợp áp dụng, thẩm quyền và trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ, chủ quản hệ thống thông tin.
RSS