Thông tin sai sự thật, giả mạo hoặc có nội dung xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có thể bị yêu cầu xóa bỏ trên không gian mạng. Vậy những thông tin nào trên không gian mạng bị yêu cầu xóa bỏ theo quy định về bảo vệ an ninh mạng?
- 1. Các nhóm thông tin trên không gian mạng thuộc diện bị yêu cầu xóa bỏ
- 1.1. Thông tin sai sự thật, xuyên tạc, xúc phạm uy tín, danh dự và đời tư
- 1.2. Thông tin cổ súy, vận động hoặc dụ dỗ thực hiện hành vi vi phạm
- 1.3. Thông tin vi phạm quy định về bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng
- 1.4. Thông tin kích động dâm ô, đồi trụy, tội phạm, mê tín dị đoan
- 1.5. Thông tin đe dọa, kích động mâu thuẫn, chia rẽ hoặc lôi kéo tụ tập đông người trái pháp luật
- 1.6. Thông tin giả mạo, sai sự thật nhằm lừa đảo, chiếm đoạt tài sản
- 1.7. Thông tin giả mạo, sai sự thật trong các lĩnh vực kinh tế và đời sống
- 2. Thời hạn và trách nhiệm gỡ bỏ thông tin vi phạm trên không gian mạng
- 2.1. Thời hạn gỡ bỏ thông tin vi phạm
- 2.2. Ngăn chặn việc đăng tải và chia sẻ lại thông tin vi phạm
- 2.3. Phải cung cấp dữ liệu liên quan đến thông tin vi phạm
- 3. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền trực tiếp xóa bỏ thông tin vi phạm
- 3.1. Khi nào lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được truy cập xóa bỏ thông tin?
- Thứ nhất, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hoặc chủ quản hệ thống thông tin không thực hiện yêu cầu xóa bỏ trong thời hạn quy định
- Thứ hai, cần ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng xảy ra
- 3.2. Ngoài việc xóa thông tin, còn có thể áp dụng những biện pháp xử lý nào?

1. Các nhóm thông tin trên không gian mạng thuộc diện bị yêu cầu xóa bỏ
1.1. Thông tin sai sự thật, xuyên tạc, xúc phạm uy tín, danh dự và đời tư
Điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Thông tin có nội dung sai sự thật, xuyên tạc, gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường hoặc uy tín của cơ quan, tổ chức, chính quyền Nhân dân; xúc phạm danh dự, nhân phẩm, bí mật đời tư của cá nhân;"
Theo đó, nhóm thông tin này bao gồm:
- Thông tin sai sự thật, xuyên tạc gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền Nhân dân;
- Thông tin sai sự thật, xuyên tạc gây ảnh hưởng đến uy tín của các chủ thể nêu trên;
- Thông tin xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân;
- Thông tin xâm phạm bí mật đời tư của cá nhân.
Như vậy, biện pháp xóa bỏ không chỉ áp dụng đối với thông tin ảnh hưởng đến an ninh quốc gia mà còn bao gồm các nội dung xâm phạm danh dự, nhân phẩm và bí mật đời tư của cá nhân theo quy định.
1.2. Thông tin cổ súy, vận động hoặc dụ dỗ thực hiện hành vi vi phạm
Điểm b khoản 2 Điều 7 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Thông tin nhằm cổ súy, vận động hoặc dụ dỗ người khác thực hiện hành vi xâm hại an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội;"
Theo quy định, thông tin thuộc diện bị yêu cầu xóa bỏ bao gồm các nội dung nhằm:
- Cổ súy hành vi xâm hại an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội;
- Vận động người khác thực hiện những hành vi này;
- Dụ dỗ người khác tham gia thực hiện hành vi xâm hại an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
1.3. Thông tin vi phạm quy định về bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng
Điểm c khoản 2 Điều 7 Nghị định 327/2026/NĐ-CP xác định một trong những trường hợp bị yêu cầu xóa bỏ là:
"Thông tin vi phạm quy định về bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng;"
Do đó, thông tin vi phạm quy định pháp luật về bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng thuộc phạm vi áp dụng biện pháp xóa bỏ.
Tại điểm e khoản 2 Điều 6 Nghị định còn yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ và chủ quản hệ thống thông tin áp dụng biện pháp bảo vệ trẻ em, người chưa thành niên và những người có nguy cơ bị xâm hại trên không gian mạng. Đồng thời, phải chủ động cảnh báo nguy cơ bị lừa đảo, làm nhục, vu khống, xâm phạm bí mật đời sống riêng tư, truyền bá nội dung vi phạm pháp luật và các hành vi xâm hại khác.
1.4. Thông tin kích động dâm ô, đồi trụy, tội phạm, mê tín dị đoan
Điểm d khoản 2 Điều 7 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Thông tin kích động dâm ô, đồi trụy, tội phạm, mê tín dị đoan; vi phạm thuần phong mỹ tục;"
Những nhóm thông tin thuộc diện bị yêu cầu xóa bỏ gồm:
- Thông tin kích động dâm ô, đồi trụy;
- Thông tin kích động tội phạm;
- Thông tin kích động mê tín dị đoan;
- Thông tin vi phạm thuần phong mỹ tục.
1.5. Thông tin đe dọa, kích động mâu thuẫn, chia rẽ hoặc lôi kéo tụ tập đông người trái pháp luật
Điểm đ khoản 2 Điều 7 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Thông tin mang tính đe dọa, kích động mâu thuẫn, chia rẽ, lôi kéo tụ tập đông người trái pháp luật gây tác động tiêu cực đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội;"
Thông tin thuộc nhóm này có thể mang nội dung:
- Đe dọa;
- Kích động mâu thuẫn;
- Kích động chia rẽ;
- Lôi kéo tụ tập đông người trái pháp luật.
Quy định còn xác định yếu tố gây tác động tiêu cực đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, khi xác định thông tin thuộc trường hợp này cần căn cứ đầy đủ vào nội dung và phạm vi, không chỉ dựa vào việc thông tin đề cập đến mâu thuẫn hoặc hoạt động tụ tập đông người.
1.6. Thông tin giả mạo, sai sự thật nhằm lừa đảo, chiếm đoạt tài sản
Điểm e khoản 2 Điều 7 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Thông tin giả mạo, sai sự thật nhằm mục đích lừa đảo, chiếm đoạt tài sản;"
Quy định này xác định đồng thời hai yếu tố:
- Thông tin có tính chất giả mạo hoặc sai sự thật;
- Thông tin nhằm mục đích lừa đảo, chiếm đoạt tài sản.
1.7. Thông tin giả mạo, sai sự thật trong các lĩnh vực kinh tế và đời sống
Điểm g khoản 2 Điều 7 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Thông tin giả mạo, sai sự thật khác trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, thương mại, đầu tư, giao thông, xây dựng, khoa học công nghệ, nông, lâm, ngư nghiệp và các lĩnh vực khác có nội dung xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội;"
Theo đó, thông tin giả mạo, sai sự thật thuộc diện bị yêu cầu xóa bỏ có thể xuất hiện trong các lĩnh vực:
- Tài chính, ngân hàng;
- Thương mại, đầu tư;
- Giao thông, xây dựng;
- Khoa học, công nghệ;
- Nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp;
- Các lĩnh vực khác có liên quan.
Đối với nhóm thông tin này, các nội dung giả mạo, sai sự thật phải xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
2. Thời hạn và trách nhiệm gỡ bỏ thông tin vi phạm trên không gian mạng
2.1. Thời hạn gỡ bỏ thông tin vi phạm
Khoản 6 Điều 10 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định tổ chức, cá nhân có trách nhiệm gỡ bỏ thông tin vi phạm thuộc phạm vi quản lý khi có yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền.
Theo đó, việc gỡ bỏ bao gồm:
- Xóa bỏ nội dung vi phạm;
- Loại bỏ bản sao của nội dung vi phạm;
- Loại bỏ đường dẫn liên quan;
- Loại bỏ nội dung chia sẻ lại có liên quan.
Về thời hạn, khoản 7 Điều 10 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Thời hạn thực hiện nghĩa vụ gỡ bỏ: chậm nhất là 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu; tình huống khẩn cấp thực hiện trong thời hạn chậm nhất là 06 giờ; đồng thời có trách nhiệm thông báo kết quả thực hiện theo yêu cầu."
Theo đó:
| Trường hợp | Thời hạn gỡ bỏ |
| Yêu cầu gỡ bỏ thông thường | Chậm nhất 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu |
| Yêu cầu gỡ bỏ trong tình huống khẩn cấp | Chậm nhất 06 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu |
Sau khi thực hiện, tổ chức, cá nhân còn phải thông báo kết quả theo yêu cầu.
2.2. Ngăn chặn việc đăng tải và chia sẻ lại thông tin vi phạm
Khoản 8 Điều 10 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Áp dụng các biện pháp kỹ thuật cần thiết để ngăn chặn việc tiếp tục lan truyền thông tin vi phạm trong phạm vi do mình quản lý, bao gồm: vô hiệu hóa chức năng chia sẻ, sao chép, phát tán; ngăn chặn việc đăng tải lại; loại bỏ liên kết, dữ liệu dẫn tới nội dung vi phạm theo yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền."
Theo đó, khi có yêu cầu, tổ chức, cá nhân phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật cần thiết trong phạm vi quản lý, bao gồm:
- Vô hiệu hóa chức năng chia sẻ, sao chép, phát tán thông tin vi phạm;
- Ngăn chặn việc đăng tải lại;
- Loại bỏ liên kết và dữ liệu dẫn tới nội dung vi phạm.
Như vậy, nghĩa vụ xử lý không chỉ giới hạn ở việc xóa bài đăng ban đầu mà còn bao gồm các biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thông tin tiếp tục được lan truyền.
2.3. Phải cung cấp dữ liệu liên quan đến thông tin vi phạm
Khoản 9 Điều 10 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Cung cấp thông tin, tài liệu, dữ liệu điện tử liên quan đến nội dung vi phạm theo yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền; bảo đảm dữ liệu chính xác, đầy đủ, đúng định dạng và trong thời hạn chậm nhất là 24 giờ, tình huống khẩn cấp chậm nhất là 03 giờ."
Theo đó, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu và dữ liệu điện tử liên quan đến nội dung vi phạm khi có yêu cầu, bảo đảm:
- Chính xác;
- Đầy đủ;
- Đúng định dạng;
- Đúng thời hạn.
Thời hạn cung cấp được xác định như sau:
| Trường hợp | Thời hạn tối đa |
| Yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu thông thường | 24 giờ |
| Yêu cầu cung cấp trong tình huống khẩn cấp | 03 giờ |
3. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền trực tiếp xóa bỏ thông tin vi phạm
3.1. Khi nào lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được truy cập xóa bỏ thông tin?
Điểm h khoản 2 Điều 7 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Trường hợp doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, chủ quản hệ thống thông tin không thực hiện yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng về xóa bỏ thông tin vi phạm chậm nhất là 24 giờ (đối với tình huống khẩn cấp là 06 giờ) hoặc để ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng xảy ra, lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được phép truy cập xóa bỏ thông tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật, tin giả trên không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;"
Theo đó, biện pháp truy cập xóa bỏ thông tin có thể được thực hiện trong các trường hợp:
Thứ nhất, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hoặc chủ quản hệ thống thông tin không thực hiện yêu cầu xóa bỏ trong thời hạn quy định
Thời hạn được xác định là:
- Chậm nhất 24 giờ đối với trường hợp thông thường;
- Chậm nhất 06 giờ đối với tình huống khẩn cấp.
Thứ hai, cần ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng xảy ra
Trong trường hợp này, Nghị định quy định lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được phép truy cập xóa bỏ thông tin thuộc phạm vi quy định nhằm ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng.
Như vậy, điểm h khoản 2 Điều 7 Nghị định quy định điều kiện áp dụng biện pháp truy cập xóa bỏ thông tin, không phải một nhóm nội dung vi phạm độc lập bên cạnh 07 nhóm thông tin đã nêu tại mục 1.
3.2. Ngoài việc xóa thông tin, còn có thể áp dụng những biện pháp xử lý nào?
Điều 7 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định nhiều biện pháp xử lý khác nhau, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm.
Trong đó, khoản 1 và khoản 3 Điều 7 quy định các biện pháp như:
- Ngăn chặn, yêu cầu tạm ngừng hoặc ngừng cung cấp thông tin mạng;
- Đình chỉ, tạm đình chỉ các hoạt động thuộc trường hợp quy định;
- Phong tỏa, hạn chế hoạt động của hệ thống thông tin;
- Đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc yêu cầu ngừng hoạt động của hệ thống thông tin;
- Thu hồi tên miền trong các trường hợp tương ứng.
Khoản 4 Điều 7 Nghị định còn quy định biện pháp yêu cầu thiết lập cơ chế kiểm soát nội dung để phòng ngừa tái phạm đối với các nền tảng, hệ thống thông tin hoặc chủ thể thuộc trường hợp được quy định.
Đồng thời, khoản 8 Điều 7 Nghị định xác định tổ chức, cá nhân vi phạm có thể bị xử lý theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, pháp luật hình sự và pháp luật có liên quan.
Tuy nhiên, mỗi biện pháp có điều kiện và phạm vi áp dụng riêng. Vì vậy, không phải mọi trường hợp thông tin bị yêu cầu xóa bỏ đều đương nhiên dẫn đến việc đình chỉ hệ thống thông tin hoặc thu hồi tên miền.
Trên đây là nội dung về những thông tin trên không gian mạng bị yêu cầu xóa bỏ theo quy định về bảo vệ an ninh mạng. Vui lòng xem chi tiết Nghị định 327/2026/NĐ-CP trên LuatVietnam.vn để tra cứu đầy đủ các trường hợp xóa bỏ thông tin, thời hạn thực hiện và biện pháp xử lý vi phạm.
RSS