Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ và chủ quản hệ thống thông tin trong việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn hành vi vi phạm trên không gian mạng. Vậy các chủ thể này phải thực hiện những biện pháp nào để phòng ngừa vi phạm trên không gian mạng?
- 1. Các biện pháp phòng ngừa vi phạm trên không gian mạng mà nhà cung cấp dịch vụ và chủ quản hệ thống thông tin phải thực hiện
- 1.1. Rà soát, nhận diện và đánh giá nguy cơ vi phạm
- 1.2. Thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát và cảnh báo sớm
- 1.3. Ngăn ngừa việc lợi dụng tài khoản số và hạ tầng kỹ thuật
- 1.4. Quản lý, phân quyền truy cập và lưu giữ dữ liệu điện tử
- 1.5. Loại bỏ hoặc vô hiệu hóa các công cụ, tài khoản có dấu hiệu phục vụ vi phạm
- 1.6. Áp dụng biện pháp bảo vệ người dùng có nguy cơ bị xâm hại
- 1.7. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật và nâng cao kỹ năng phòng ngừa
- 1.8. Thực hiện cảnh báo, hướng dẫn của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng
- 2. Trách nhiệm khi phát hiện thông tin, hành vi vi phạm trên không gian mạng
- 2.1. Phải chủ động kiểm soát thông tin và thông báo khi phát hiện vi phạm
- 2.2. Phải áp dụng ngay biện pháp hạn chế hậu quả và bảo toàn dữ liệu
- 2.3. Phải cung cấp thông tin, dữ liệu theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền
- 3. Biện pháp xử lý khi không thực hiện trách nhiệm phòng ngừa vi phạm
- 3.1. Có thể bị yêu cầu thiết lập cơ chế kiểm soát nội dung để phòng ngừa tái phạm
- 3.2. Có thể bị hạn chế, đình chỉ hoạt động hoặc áp dụng biện pháp xử lý khác

1. Các biện pháp phòng ngừa vi phạm trên không gian mạng mà nhà cung cấp dịch vụ và chủ quản hệ thống thông tin phải thực hiện
1.1. Rà soát, nhận diện và đánh giá nguy cơ vi phạm
Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Rà soát, nhận diện, đánh giá nguy cơ, dấu hiệu, phương thức, thủ đoạn, công cụ, tài khoản số, hội, nhóm, kênh, trang, ứng dụng, nền tảng, hệ thống thông tin, tên miền, địa chỉ mạng, đường dẫn, dữ liệu điện tử có dấu hiệu bị lợi dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng;"
Theo đó, nhà cung cấp dịch vụ và chủ quản hệ thống thông tin phải thực hiện việc rà soát, nhận diện, đánh giá đối với:
- Nguy cơ, dấu hiệu và phương thức, thủ đoạn vi phạm;
- Công cụ, tài khoản số có dấu hiệu bị lợi dụng;
- Hội, nhóm, kênh, trang, ứng dụng, nền tảng có dấu hiệu liên quan đến hành vi vi phạm;
- Hệ thống thông tin, tên miền, địa chỉ mạng, đường dẫn;
- Dữ liệu điện tử có dấu hiệu phục vụ hành vi vi phạm pháp luật.
Đây là nhóm biện pháp nhằm nhận diện nguy cơ và những yếu tố có thể bị lợi dụng để thực hiện hành vi vi phạm trên không gian mạng.
1.2. Thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát và cảnh báo sớm
Điểm b khoản 2 Điều 6 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Thiết lập, duy trì cơ chế kiểm tra, giám sát, cảnh báo, phát hiện sớm, tiếp nhận phản ánh, tố giác, kiến nghị của tổ chức, cá nhân về hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng;"
Theo quy định, nhà cung cấp dịch vụ và chủ quản hệ thống thông tin phải thiết lập, duy trì các cơ chế:
- Kiểm tra, giám sát hoạt động trên hệ thống;
- Cảnh báo nguy cơ và phát hiện sớm hành vi vi phạm;
- Tiếp nhận phản ánh của tổ chức, cá nhân;
- Tiếp nhận tố giác, kiến nghị liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật.
Do đó, trách nhiệm phòng ngừa không chỉ dừng lại ở việc xử lý nội dung đã phát hiện vi phạm mà còn bao gồm việc duy trì cơ chế giám sát và tiếp nhận thông tin để phát hiện sớm nguy cơ.
1.3. Ngăn ngừa việc lợi dụng tài khoản số và hạ tầng kỹ thuật
Điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị định 327/2026/NĐ-CP yêu cầu:
"Ngăn ngừa việc lợi dụng tài khoản số, danh tính điện tử, phương tiện điện tử, hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ số để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;"
Các chủ thể phải áp dụng biện pháp phòng ngừa đối với việc lợi dụng:
- Tài khoản số;
- Danh tính điện tử;
- Phương tiện điện tử;
- Hạ tầng kỹ thuật;
- Dịch vụ số.
Bên cạnh đó, điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị định này còn quy định trách nhiệm định danh, xác thực điện tử đối với tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ trước và trong quá trình cung cấp dịch vụ; phát hiện, ngăn chặn hoạt động của tài khoản số không chính chủ; quản lý địa chỉ mạng của tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ Internet theo quy định.
1.4. Quản lý, phân quyền truy cập và lưu giữ dữ liệu điện tử
Điểm d khoản 2 Điều 6 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Tổ chức quản lý, phân quyền, kiểm soát truy cập, ghi nhận và lưu giữ nhật ký hệ thống, dữ liệu điện tử cần thiết theo quy định của pháp luật nhằm phục vụ phát hiện, xác minh, xử lý hành vi vi phạm và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;"
Các biện pháp phải thực hiện theo quy định bao gồm:
- Tổ chức quản lý hệ thống thông tin;
- Phân quyền và kiểm soát truy cập;
- Ghi nhận, lưu giữ nhật ký hệ thống;
- Lưu giữ dữ liệu điện tử cần thiết theo quy định pháp luật.
Việc quản lý và lưu giữ dữ liệu được thực hiện nhằm phục vụ phát hiện, xác minh, xử lý hành vi vi phạm, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan.
1.5. Loại bỏ hoặc vô hiệu hóa các công cụ, tài khoản có dấu hiệu phục vụ vi phạm
Điểm đ khoản 2 Điều 6 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Rà soát, loại bỏ hoặc vô hiệu hóa trong phạm vi quản lý của mình các công cụ, phần mềm, ứng dụng, tài khoản, đường dẫn, dữ liệu, cấu hình kỹ thuật có dấu hiệu trực tiếp phục vụ việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng theo quy định của pháp luật;"
Nhà cung cấp dịch vụ và chủ quản hệ thống thông tin phải rà soát, loại bỏ hoặc vô hiệu hóa những yếu tố có dấu hiệu trực tiếp phục vụ hành vi vi phạm, gồm:
- Công cụ, phần mềm, ứng dụng;
- Tài khoản và đường dẫn;
- Dữ liệu điện tử;
- Cấu hình kỹ thuật.
Việc loại bỏ hoặc vô hiệu hóa được thực hiện trong phạm vi quản lý của từng chủ thể và theo quy định pháp luật.
1.6. Áp dụng biện pháp bảo vệ người dùng có nguy cơ bị xâm hại
Điểm e khoản 2 Điều 6 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định trách nhiệm áp dụng biện pháp bảo vệ đối với:
- Trẻ em;
- Người chưa thành niên;
- Người cao tuổi;
- Người khuyết tật;
- Những người có nguy cơ bị xâm hại, bị lợi dụng hoặc gặp khó khăn trong việc tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trên không gian mạng.
Đồng thời, nhà cung cấp dịch vụ và chủ quản hệ thống thông tin phải chủ động cảnh báo các nguy cơ như:
- Lừa đảo, chiếm đoạt tài sản;
- Làm nhục, vu khống;
- Xâm phạm bí mật đời sống riêng tư;
- Truyền bá nội dung vi phạm pháp luật;
- Các hành vi xâm hại khác trên không gian mạng.
Việc phòng ngừa vi phạm còn gắn với trách nhiệm bảo vệ người sử dụng dịch vụ, đặc biệt là những nhóm có nguy cơ bị xâm hại.
1.7. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật và nâng cao kỹ năng phòng ngừa
Điểm g khoản 2 Điều 6 Nghị định 327/2026/NĐ-CP yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ và chủ quản hệ thống thông tin:
"Tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức, kỹ năng phòng ngừa, phát hiện, ứng phó với hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng cho người sử dụng dịch vụ, cán bộ quản trị, người vận hành hệ thống thông tin và các chủ thể có liên quan;"
Theo đó, hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức phải hướng tới:
- Người sử dụng dịch vụ;
- Cán bộ quản trị;
- Người vận hành hệ thống thông tin;
- Các chủ thể liên quan.
Nội dung tập trung vào kiến thức pháp luật và kỹ năng phòng ngừa, phát hiện, ứng phó với hành vi vi phạm trên không gian mạng.
1.8. Thực hiện cảnh báo, hướng dẫn của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng
Điểm h khoản 2 Điều 6 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định các chủ thể phải:
"Thực hiện yêu cầu, hướng dẫn, cảnh báo của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền; phối hợp ngăn chặn nguy cơ phát sinh, lan rộng hoặc tái diễn hành vi vi phạm."
Như vậy, nhà cung cấp dịch vụ và chủ quản hệ thống thông tin phải thực hiện những yêu cầu, hướng dẫn, cảnh báo của cơ quan có thẩm quyền, đồng thời phối hợp để ngăn chặn hành vi vi phạm phát sinh, lan rộng hoặc tái diễn.
2. Trách nhiệm khi phát hiện thông tin, hành vi vi phạm trên không gian mạng
2.1. Phải chủ động kiểm soát thông tin và thông báo khi phát hiện vi phạm
Khoản 1 Điều 6 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Chủ quản hệ thống thông tin và nhà cung cấp dịch vụ có trách nhiệm chủ động triển khai biện pháp kỹ thuật, quản lý để kiểm soát thông tin trên hệ thống; kịp thời thông báo, phối hợp lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền xử lý khi phát hiện thông tin thuộc các nhóm nội dung quy định tại Điều 13 Luật An ninh mạng."
Theo quy định trên, chủ quản hệ thống thông tin và nhà cung cấp dịch vụ phải:
- Chủ động triển khai biện pháp quản lý và kỹ thuật để kiểm soát thông tin trên hệ thống;
- Kịp thời thông báo khi phát hiện thông tin thuộc các nhóm nội dung quy định;
- Phối hợp với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền để xử lý.
Như vậy, việc phát hiện thông tin vi phạm phải gắn với trách nhiệm thông báo và phối hợp xử lý, không chỉ dừng lại ở hoạt động kiểm tra nội bộ.
2.2. Phải áp dụng ngay biện pháp hạn chế hậu quả và bảo toàn dữ liệu
Khoản 3 Điều 6 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"Khi phát hiện dấu hiệu hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng, nhà cung cấp dịch vụ, chủ quản hệ thống thông tin và tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm áp dụng ngay biện pháp cần thiết trong phạm vi quản lý của mình để hạn chế hậu quả, bảo toàn dữ liệu điện tử, bảo đảm không làm mất, sai lệch, hư hỏng, tổn hại dữ liệu điện tử và kịp thời thông báo cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật."
Theo đó, khi phát hiện dấu hiệu vi phạm, các chủ thể phải đồng thời thực hiện:
- Áp dụng ngay biện pháp cần thiết để hạn chế hậu quả: Biện pháp được thực hiện trong phạm vi quản lý của từng chủ thể.
- Bảo toàn dữ liệu điện tử: Phải bảo đảm dữ liệu không bị mất, sai lệch, hư hỏng hoặc tổn hại trong quá trình xử lý.
- Kịp thời thông báo cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền: Việc thông báo phải được thực hiện theo quy định pháp luật.
2.3. Phải cung cấp thông tin, dữ liệu theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền
Điểm đ khoản 1 Điều 5 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định nhà cung cấp dịch vụ và chủ quản hệ thống thông tin phải cung cấp đầy đủ, chính xác, đúng thời hạn thông tin, tài liệu, dữ liệu điện tử cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật, đồng thời bảo đảm yêu cầu bí mật.
Về thời hạn cung cấp, khoản 11 Điều 7 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định:
"a) Chậm nhất 24 giờ đối với yêu cầu thông thường;
b) Chậm nhất 03 giờ đối với tình huống khẩn cấp."
Như vậy, thời hạn cung cấp thông tin, dữ liệu điện tử phục vụ phòng ngừa, xử lý vi phạm được xác định như sau:
| Trường hợp | Thời hạn tối đa |
| Yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu thông thường | 24 giờ |
| Yêu cầu cung cấp trong tình huống khẩn cấp | 03 giờ |
3. Biện pháp xử lý khi không thực hiện trách nhiệm phòng ngừa vi phạm
3.1. Có thể bị yêu cầu thiết lập cơ chế kiểm soát nội dung để phòng ngừa tái phạm
Khoản 4 Điều 7 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định các trường hợp yêu cầu thiết lập cơ chế kiểm soát nội dung để phòng ngừa tái phạm.
Trong đó, các trường hợp gồm:
- Nền tảng, hệ thống thông tin cho phép người dùng dễ dàng tạo, chia sẻ nội dung vi phạm nhưng chưa có biện pháp kiểm soát phù hợp.
- Nhà cung cấp dịch vụ, chủ quản hệ thống thông tin không có hoặc không thực hiện quy trình kiểm duyệt, cảnh báo, phát hiện nội dung vi phạm.
- Hệ thống thông tin có lỗ hổng bảo mật bị lợi dụng để phát tán mã độc hoặc thông tin độc hại trên diện rộng.
- Chủ quản hệ thống thông tin quản lý, điều hành trang thông tin điện tử, mạng xã hội nhưng không triển khai biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, gỡ bỏ hoặc xóa bỏ thông tin vi phạm.
- Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, Internet hoặc chủ quản hệ thống thông tin để xảy ra nhiều lần hành vi đăng tải, chia sẻ, phát tán thông tin vi phạm.
- Chủ quản hệ thống, nhà cung cấp dịch vụ chưa có quy trình quản lý nội dung hoặc biện pháp kỹ thuật tự động kiểm duyệt để ngăn chặn vi phạm tái diễn sau khi đã bị xử lý.
- Nền tảng vi phạm quy định về bảo vệ trẻ em, không tích hợp biện pháp ngăn ngừa trẻ em truy cập thông tin không có lợi hoặc thiếu cảnh báo về nội dung không phù hợp với trẻ em.
Ngoài ra, khoản 4 Điều 7 còn quy định trường hợp không áp dụng biện pháp quản lý, kỹ thuật theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật an ninh mạng để phòng, chống nguy cơ, khắc phục sự cố và các trường hợp khác theo quyết định của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng.
Như vậy, chủ thể không thực hiện đầy đủ trách nhiệm kiểm soát nội dung có thể bị yêu cầu thiết lập hoặc hoàn thiện cơ chế kiểm soát để phòng ngừa tái phạm.
3.2. Có thể bị hạn chế, đình chỉ hoạt động hoặc áp dụng biện pháp xử lý khác
Khoản 1 và khoản 3 Điều 7 Nghị định 327/2026/NĐ-CP quy định các biện pháp xử lý đối với một số trường hợp vi phạm, bao gồm:
- Ngăn chặn, yêu cầu tạm ngừng hoặc ngừng cung cấp thông tin mạng;
- Đình chỉ, tạm đình chỉ một số hoạt động theo phạm vi quy định;
- Phong tỏa, hạn chế hoạt động của hệ thống thông tin;
- Yêu cầu ngừng hoạt động của hệ thống thông tin;
- Thu hồi tên miền trong các trường hợp tương ứng.
Các biện pháp này có thể được áp dụng khi chủ thể thuộc trường hợp quy định tại Điều 7, chẳng hạn như không triển khai biện pháp quản lý, kỹ thuật để phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn thông tin vi phạm hoặc không thực hiện yêu cầu xử lý của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng.
Bên cạnh đó, khoản 8 Điều 7 Nghị định quy định nhà cung cấp dịch vụ, chủ quản hệ thống thông tin, tổ chức, cá nhân vi phạm còn có thể bị xử lý theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, pháp luật hình sự và pháp luật có liên quan.
Do đó, việc áp dụng biện pháp xử lý phải căn cứ vào hành vi, tính chất, mức độ vi phạm và điều kiện áp dụng của từng biện pháp, không phải mọi trường hợp thiếu biện pháp phòng ngừa đều đương nhiên bị đình chỉ hoạt động.
Trên đây là nội dung về các biện pháp nhà cung cấp dịch vụ, chủ quản hệ thống thông tin phải thực hiện để phòng ngừa vi phạm trên không gian mạng. Vui lòng xem chi tiết Nghị định 327/2026/NĐ-CP trên LuatVietnam.vn để tra cứu đầy đủ các biện pháp quản lý, kỹ thuật, trách nhiệm phối hợp và quy định xử lý vi phạm.
RSS