Chính sách mới về Tài chính ngân hàng có hiệu lực tháng 3/2026

Trong bài viết dưới đây, LuatVietnam sẽ tổng hợp các chính sách mới lĩnh vực tài chính ngân hàng có hiệu lực tháng 3/2026 theo quy định của pháp luật.

1. Tổ chức tín dụng và khách hàng được thỏa thuận trong hợp đồng chiết khấu

Theo khoản 1 Điều 4 Thông tư 81/2025/TT-NHNN, hoạt động chiết khấu được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng, phù hợp với quy định của pháp luật về ngân hàng, công cụ chuyển nhượng, quản lý ngoại hối và pháp luật có liên quan. 

Ngoài ra, theo khoản 2 Điều 4 Thông tư 81/2025/TT-NHNN, khách hàng có trách nhiệm sử dụng số tiền chiết khấu đúng mục đích hợp pháp đã cam kết, đồng thời bảo đảm khả năng tài chính để thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng chiết khấu. 

Đối với tổ chức tín dụng, theo khoản 3 Điều 4 Thông tư 81/2025/TT-NHNN, việc xét duyệt chiết khấu phải được thực hiện theo nguyên tắc phân định rõ trách nhiệm giữa khâu thẩm định và khâu quyết định chiết khấu. Việc xem xét, quyết định chiết khấu phải bảo đảm an toàn, thu hồi đầy đủ và đúng hạn số tiền chiết khấu, lãi chiết khấu và các khoản phí liên quan theo thỏa thuận trong hợp đồng chiết khấu, phù hợp với quy định của pháp luật.

Theo khoản 5 Điều 4 Thông tư 81/2025/TT-NHNN, Thông tư cũng quy định tổ chức tín dụng và khách hàng được thỏa thuận trong hợp đồng chiết khấu về việc thanh toán trước hạn số tiền chiết khấu, đồng thời thỏa thuận việc thu phí hoặc không thu phí trong trường hợp khách hàng thanh toán trước hạn.

Chính sách mới về Tài chính ngân hàng có hiệu lực tháng 3/2026
Chính sách mới về Tài chính ngân hàng có hiệu lực tháng 3/2026 (Ảnh minh hoạ)

2. Ngân hàng Nhà nước quy định rõ trách nhiệm của khách hàng tương ứng với từng phương thức chiết khấu

Theo đó, theo khoản 5 Điều 3 Thông tư 81/2025/TT-NHNN, Trường hợp chiết khấu theo phương thức mua có kỳ hạn, khách hàng có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ mua lại công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác theo đúng cam kết đã thỏa thuận trong hợp đồng chiết khấu. 

Trường hợp chiết khấu theo phương thức mua có bảo lưu quyền truy đòi, khách hàng có trách nhiệm thanh toán đầy đủ số tiền chiết khấu, lãi chiết khấu và các loại phí liên quan theo thỏa thuận trong hợp đồng trong trường hợp tổ chức tín dụng không nhận được đầy đủ số tiền thanh toán từ người có trách nhiệm thanh toán công cụ chuyển nhượng hoặc tổ chức phát hành giấy tờ có giá.

3. Tổ chức tín dụng được lựa chọn chiết khấu các công cụ chuyển nhượng

Về loại công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác được chiết khấu, theo khoản 1 Điều 5 Thông tư 81/2025/TT-NHNN, tổ chức tín dụng được lựa chọn chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, bao gồm hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc và các công cụ chuyển nhượng khác theo quy định của pháp luật. 

Bên cạnh đó, theo khoản 2 Điều 5 Thông tư 81/2025/TT-NHNN, tổ chức tín dụng được lựa chọn chiết khấu các loại giấy tờ có giá khác như tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu do tổ chức tín dụng phát hành và trái phiếu do các tổ chức khác phát hành theo quy định của pháp luật.

Thông tư cũng quy định cụ thể điều kiện đối với công cụ chuyển nhượng được nhận chiết khấu. Theo đó, theo khoản 1 Điều 6 Thông tư 81/2025/TT-NHNN, công cụ chuyển nhượng phải được phát hành hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước phát hành hoặc theo tập quán thương mại quốc tế; thuộc quyền thụ hưởng hợp pháp của khách hàng; tại thời điểm chiết khấu không có tranh chấp và không được sử dụng để bảo đảm cho nghĩa vụ khác. Đồng thời, công cụ chuyển nhượng không được ghi các cụm từ hạn chế chuyển nhượng như “Không được chuyển nhượng”, “Cấm chuyển nhượng”, “Không trả theo lệnh” hoặc các cụm từ có ý nghĩa tương tự; chưa đến hạn thanh toán toàn bộ số tiền và còn nguyên vẹn, không bị tẩy xóa, sửa chữa.

Đối với giấy tờ có giá khác, theo khoản 2 Điều 6 Thông tư 81/2025/TT-NHNN, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giấy tờ phải được phát hành hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam; thuộc quyền sở hữu hợp pháp của khách hàng; tại thời điểm chiết khấu không có tranh chấp, không được sử dụng để bảo đảm cho nghĩa vụ khác; được phép giao dịch theo quy định của pháp luật; chưa đến hạn thanh toán toàn bộ số tiền và còn nguyên vẹn, không bị tẩy xóa, sửa chữa.

4. Tổ chức tín dụng và khách hàng được lựa chọn phương thức chiết khấu

Theo đó, theo Điều 9 Thông tư 81/2025/TT-NHNN, về phương thức chiết khấu, Thông tư quy định tổ chức tín dụng và khách hàng được thỏa thuận, lựa chọn hai phương thức gồm mua có kỳ hạn và mua có bảo lưu quyền truy đòi. 

Trong đó, mua có kỳ hạn công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác là việc tổ chức tín dụng mua và nhận chuyển nhượng quyền sở hữu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán toàn bộ số tiền ghi trên công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác từ khách hàng, đồng thời khách hàng cam kết sẽ mua lại công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác đó sau một khoảng thời gian được xác định tại hợp đồng chiết khấu.

Mua có bảo lưu quyền truy đòi công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác là việc tổ chức tín dụng mua và nhận quyền sở hữu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán toàn bộ số tiền ghi trên công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác từ khách hàng; khách hàng phải có trách nhiệm hoàn trả đối với số tiền chiết khấu, lãi chiết khấu, các loại phí có liên quan đến hoạt động chiết khấu theo thỏa thuận trong hợp đồng chiết khấu trong trường hợp tổ chức tín dụng không nhận được đầy đủ số tiền được thanh toán từ người có trách nhiệm thanh toán công cụ chuyển nhượng, người phát hành giấy tờ có giá khác.

Tổ chức tín dụng và khách hàng được lựa chọn phương thức chiết khấu
Tổ chức tín dụng và khách hàng được lựa chọn phương thức chiết khấu (Ảnh minh hoạ)

5. Tổ chức tín dụng và khách hàng được thỏa thuận mức lãi suất chiết khấu trong hợp đồng

Thông tư cũng quy định chi tiết về giá chiết khấu, thời hạn chiết khấu, lãi suất chiết khấu và các loại phí liên quan. 

Theo Điều 10 Thông tư 81/2025/TT-NHNN, giá chiết khấu do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận trên cơ sở giá trị thanh toán khi đến hạn, mức độ rủi ro, giá trị công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác, lãi suất chiết khấu, thời hạn còn lại và các yếu tố khác. Thời hạn chiết khấu do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá thời hạn thanh toán còn lại; đối với giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng khác phát hành, thời hạn chiết khấu tối đa là dưới 01 năm.

Về lãi suất, theo khoản 3 Điều 10 Thông tư 81/2025/TT-NHNN, Thông tư cho phép tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận mức lãi suất chiết khấu trong hợp đồng; lãi suất áp dụng đối với số tiền chiết khấu quá hạn không vượt quá 150% lãi suất chiết khấu trong thời hạn; lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả không vượt quá 10%/năm. Trường hợp đồng tiền chiết khấu là ngoại tệ, việc thu lãi chiết khấu được thực hiện bằng ngoại tệ hoặc quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá thỏa thuận, phù hợp với quy định về quản lý ngoại hối.

Về thủ tục chiết khấu, theo khoản 1 Điều 12 Thông tư 81/2025/TT-NHNN, Thông tư quy định khi khách hàng có nhu cầu chiết khấu, tổ chức tín dụng yêu cầu khách hàng cung cấp các tài liệu, dữ liệu cần thiết để phục vụ công tác thẩm định. Trên cơ sở đó, tổ chức tín dụng thực hiện thẩm định mục đích sử dụng số tiền chiết khấu hợp pháp, khả năng tài chính của khách hàng và khả năng thanh toán của công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác trước khi quyết định thực hiện hoạt động chiết khấu.

Khách hàng có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, dữ liệu theo yêu cầu của tổ chức tín dụng, bao gồm tài liệu chứng minh khả năng tài chính, phương án sử dụng số tiền chiết khấu, mục đích sử dụng vốn hợp pháp, tài liệu chứng minh công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác đủ điều kiện chiết khấu, cũng như thông tin về người có liên quan trong các trường hợp tổng dư nợ cấp tín dụng đạt các ngưỡng theo quy định tại Thông tư. Trình tự, thủ tục chiết khấu cụ thể được tổ chức tín dụng quy định trong quy định nội bộ về hoạt động chiết khấu.

6. Bộ Tài chính điều chỉnh khung pháp lý giám sát giao dịch chứng khoán, tăng cường giám sát liên thị trường

Một trong những điểm đáng chú ý của Thông tư 138/2025/TT-BTC là chuẩn hóa và làm rõ các khái niệm trong công tác giám sát giao dịch, trong đó lần đầu tiên quy định cụ thể khái niệm giao dịch bất thường, giao dịch nghi vấn và giám sát giao dịch liên thị trường. 

Theo đó, theo Điều 3 Thông tư 95/2020/TT-BTC được sửa đổi bổ sung bởi Điều 1 Thông tư 138/2025/TT-BTC:

- Giao dịch bất thường là các giao dịch chạm vào các tiêu chí cảnh báo của hệ thống tiêu chí giám sát do Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam ban hành.

- Giao dịch nghi vấn là các giao dịch bất thường được Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam và công ty con phân tích, xác định là giao dịch có dấu hiệu vi phạm quy định của pháp luật về giao dịch chứng khoán.

- Giám sát giao dịch liên thị trường là giám sát các giao dịch trên thị trường cơ sở và thị trường phái sinh; giao dịch trên thị trường cơ sở và giao dịch chứng quyền có bảo đảm, phân tích các giao dịch bất thường trên cả hai thị trường, mối liên hệ giữa các giao dịch này nhằm phát hiện các giao dịch nghi vấn có dấu hiệu vi phạm quy định pháp luật về giao dịch chứng khoán.

Như vậy, giám sát không chỉ được thực hiện riêng lẻ trên từng thị trường mà còn phân tích mối liên hệ giữa thị trường cơ sở, thị trường phái sinh và thị trường chứng quyền có bảo đảm, qua đó kịp thời phát hiện các giao dịch có dấu hiệu vi phạm pháp luật.

7. Bổ sung nguyên tắc tổ chức công tác giám sát giao dịch chứng khoán

Theo Điều 3a Thông tư 95/2020/TT-BTC được sửa đổi bổ sung bởi Điều 2 Thông tư 138/2025/TT-BTC, Thông tư cũng bổ sung nguyên tắc tổ chức công tác giám sát giao dịch chứng khoán, nhấn mạnh yêu cầu giám sát phải được thực hiện thống nhất, thường xuyên, liên tục, kịp thời và có sự phối hợp chặt chẽ giữa Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam, các Sở giao dịch chứng khoán, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam (VSDC) cùng các thành viên thị trường. Đây được xem là nền tảng quan trọng nhằm bảo đảm thị trường vận hành công khai, minh bạch, công bằng và hiệu quả.

So với quy định trước đây, Thông tư 138/2025/TT-BTC làm rõ hơn trách nhiệm và quyền hạn của UBCKNN trong công tác giám sát giao dịch, từ việc yêu cầu báo cáo, giải trình, cung cấp thông tin, đến việc đưa ra cảnh báo, xử lý vi phạm và ban hành quy chế phối hợp giám sát. UBCKNN đồng thời được giao hướng dẫn thống nhất về định dạng dữ liệu số, phương tiện và quy trình trao đổi dữ liệu điện tử, tạo cơ sở cho việc số hóa và nâng cao chất lượng giám sát.

Ngoài ra, theo Điều 7 Thông tư 95/2020/TT-BTC được sửa đổi bổ sung bởi Điều 5 Thông tư 138/2025/TT-BTC, đối với Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam và các Sở giao dịch chứng khoán, Thông tư mới mở rộng và cụ thể hóa trách nhiệm trong việc ban hành tiêu chí giám sát giao dịch, chỉ tiêu báo cáo giám sát áp dụng cho thành viên giao dịch, cũng như giám sát trực tiếp diễn biến giao dịch trong ngày, nhiều ngày và định kỳ. Đáng chú ý, theo điểm d, điểm g khoản 2 Điều 7 Thông tư 95/2020/TT-BTC được sửa đổi bổ sung bởi Điều 5 Thông tư 138/2025/TT-BTC, các Sở giao dịch được yêu cầu tăng cường rà soát thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng, tin đồn liên quan đến giao dịch bất thường, đồng thời chủ động đưa ra cảnh báo đối với các chứng khoán có biến động bất thường về giá và khối lượng.

8. Siết chặt chế độ báo cáo giám sát giao dịch định kỳ

Một điểm mới quan trọng khác là siết chặt chế độ báo cáo giám sát giao dịch. Theo đó, theo Điều 13 Thông tư 95/2020/TT-BTC được sửa đổi bổ sung bởi Điều 7 Thông tư 138/2025/TT-BTC, Sở giao dịch chứng khoán phải gửi dữ liệu giao dịch chi tiết cho UBCKNN chậm nhất 17 giờ của ngày làm việc tiếp theo; báo cáo giám sát giao dịch tuần trong 02 ngày làm việc đầu tiên của tuần kế tiếp; báo cáo tháng trong 10 ngày làm việc đầu tiên của tháng sau và báo cáo năm trong 20 ngày làm việc đầu tiên của năm kế tiếp. Các mốc thời gian này được quy định rõ ràng nhằm nâng cao tính kịp thời, đầy đủ của thông tin phục vụ công tác quản lý, giám sát thị trường.

9. Hoàn thiện cơ chế giám sát tại Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam

Theo Điều 18 Thông tư 95/2020/TT-BTC được sửa đổi bổ sung bởi Điều 10 Thông tư 138/2025/TT-BTC, Thông tư bổ sung, hoàn thiện cơ chế giám sát tại Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam, đặc biệt là đối với các nội dung liên quan đến bù trừ, thanh toán, giới hạn vị thế và ký quỹ. Việc giám sát được thực hiện theo từng tài khoản nhà đầu tư trên thị trường phái sinh và theo từng thành viên bù trừ trên thị trường cơ sở, góp phần hạn chế rủi ro hệ thống và bảo đảm an toàn cho toàn thị trường.

Bên cạnh đó, Thông tư tiến hành đồng bộ thuật ngữ và mô hình tổ chức, thống nhất cách gọi “Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam và công ty con”, “Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam và công ty con”, đồng thời thay thế một số cụm từ nhằm phản ánh đúng bản chất quản lý, giám sát theo quy định mới của Luật Chứng khoán sửa đổi.

Hoàn thiện cơ chế giám sát tại Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam
Hoàn thiện cơ chế giám sát tại Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam (Ảnh minh hoạ)

10. Hoàn thiện nền tảng dữ liệu thống kê ngành Tài chính

Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư 129/2025/TT-BTC, hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Tài chính là tập hợp các chỉ tiêu thống kê phản ánh tình hình, kết quả hoạt động chủ yếu của ngành Tài chính và các đặc điểm cơ bản của đối tượng quản lý của ngành Tài chính nhằm phục vụ công tác chỉ đạo điều hành của ngành Tài chính và các cơ quan Nhà nước; công tác đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách phát triển các lĩnh vực quản lý của ngành Tài chính; đáp ứng nhu cầu trao đổi, chia sẻ thông tin thống kê tài chính theo quy định của Luật Thống kê và các văn bản hướng dẫn Luật Thống kê.

Như vậy, hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Tài chính được xác định là tập hợp các chỉ tiêu phản ánh những nội dung cốt lõi của hoạt động quản lý tài chính - ngân sách, tài sản công, thuế, hải quan, thị trường tài chính và các lĩnh vực liên quan. Hệ thống này không chỉ phục vụ công tác điều hành nội bộ của ngành Tài chính, mà còn đáp ứng yêu cầu trao đổi, chia sẻ thông tin thống kê theo Luật Thống kê và thông lệ quốc tế.

Bên cạnh đó, theo khoản 2 Điều 3 Thông tư 129/2025/TT-BTC, hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Tài chính gồm hai cấu phần: Danh mục chỉ tiêu thống kê ban hành kèm theo Phụ lục I và Nội dung chỉ tiêu thống kê tại Phụ lục II. Việc tách bạch danh mục và nội dung giúp các cơ quan, đơn vị thuận lợi trong tổ chức triển khai, đồng thời bảo đảm tính thống nhất trong cách hiểu, cách thu thập và tổng hợp số liệu trên toàn hệ thống.

Ngoài ra, theo Điều 4 Thông tư 129/2025/TT-BTC, Cục Công nghệ thông tin và Chuyển đổi số được giao vai trò chủ trì trong tổng hợp, phổ biến thông tin thống kê tài chính; xây dựng hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ thu thập, lưu trữ, khai thác dữ liệu. Đồng thời, Cục có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện và đề xuất sửa đổi, bổ sung hệ thống chỉ tiêu phù hợp thực tiễn và quy định pháp luật.

Thông tư nhấn mạnh trách nhiệm của các đơn vị trong việc phát triển, ứng dụng công nghệ thông tin để bảo đảm tính kết nối, liên thông, chia sẻ và tích hợp dữ liệu giữa hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Tài chính với các hệ thống thông tin tác nghiệp, cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Yêu cầu nhằm hình thành nền tảng dữ liệu thống nhất, phục vụ quản trị dựa trên dữ liệu và chuyển đổi số toàn diện ngành Tài chính.

Trên đây là thông tin về việc Chính sách mới về Tài chính ngân hàng có hiệu lực tháng 3/2026…
1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:

Tin cùng chuyên mục

Cận 1.5 độ được miễn hay tạm hoãn nghĩa vụ quân sự?

Cận 1.5 độ được miễn hay tạm hoãn nghĩa vụ quân sự?

Cận 1.5 độ được miễn hay tạm hoãn nghĩa vụ quân sự?

Việc thực hiện nghĩa vụ quân sự là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi công dân nhằm góp phần bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, không phải ai cũng đủ điều kiện sức khỏe để nhập ngũ. Vậy cận 1.5 độ được miễn hay tạm hoãn nghĩa vụ quân sự hay không? Cùng LuatVietnam tìm hiểu ngay.