1. Thửa đất thuộc đối tượng được định danh địa điểm bằng mã 12 chữ số
Theo khoản 2 Điều 2 Nghị định 326/2026/NĐ-CP, đối tượng được định danh địa điểm gồm các thửa đất, công trình kiến trúc, công trình xây dựng, kết cấu xây dựng, địa danh hoặc các cấu trúc vật lý và đối tượng khác được quy định tại Phụ lục ban hành kèm Nghị định.
Trong 71 đối tượng được liệt kê cụ thể tại Phụ lục, thửa đất là đối tượng thứ 71, có mã đối tượng LA01.
Theo Điều 3 và Điều 4 Nghị định 326/2026/NĐ-CP:
-
Mỗi địa điểm chỉ có 01 mã định danh duy nhất, không trùng lặp trong toàn hệ thống;
-
Mã định danh địa điểm là dãy số tự nhiên gồm 12 chữ số do Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm xác lập;
-
Mã được tạo lập phải bảo đảm tính ổn định lâu dài và khả năng liên kết, tích hợp, kết nối, chia sẻ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Đáng chú ý, việc Nghị định có hiệu lực từ 01/9/2026 không đồng nghĩa tất cả các thửa đất sẽ đồng loạt được cấp mã định danh ngay trong ngày này.
Theo Điều 17, đối với đối tượng đã có đầy đủ thông tin tối thiểu, các bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện đồng bộ dữ liệu về Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm để thực hiện khi Nghị định có hiệu lực. Trường hợp chưa có đầy đủ thông tin thì phải xây dựng lộ trình thu thập, tạo lập, bổ sung và đồng bộ dữ liệu.

2. Người dân được khai thác dữ liệu định danh địa điểm trên VNeID
Một chính sách đáng chú ý khác từ ngày 01/9/2026 là tổ chức, cá nhân được khai thác dữ liệu công khai về định danh địa điểm trên ứng dụng định danh quốc gia VNeID.
Cụ thể, khoản 2 Điều 7 Nghị định 326/2026/NĐ-CP quy định:
-
Tổ chức, cá nhân được khai thác dữ liệu công khai về định danh địa điểm trên VNeID;
-
Tổ chức, cá nhân được khai thác thông tin của chính mình trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm thông qua VNeID;
-
Một số trường hợp khác có thể khai thác dữ liệu thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ xác thực điện tử và phải nộp phí khai thác, sử dụng thông tin.
Dữ liệu công khai gồm các thông tin như: mã định danh địa điểm; loại đối tượng; địa chỉ; lối tiếp cận; mã bưu chính; tọa độ; trạng thái hoạt động, sử dụng; tên địa điểm; dấu hiệu nhận biết; thông tin địa chỉ các thành phần thuộc địa điểm.
Tuy nhiên, cần lưu ý việc cho phép khai thác dữ liệu định danh địa điểm trên VNeID không có nghĩa người dân được tự do tra cứu toàn bộ thông tin về quyền sử dụng đất của người khác.
Theo khoản 3 Điều 7 Nghị định 326/2026/NĐ-CP, thông tin của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thông tin về cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu hoặc sử dụng địa điểm và một số dữ liệu khác thuộc nhóm dữ liệu không công khai. Việc khai thác, chia sẻ các dữ liệu này phải tuân thủ pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo vệ bí mật nhà nước.
3. Không yêu cầu nộp thành phần hồ sơ nếu thông tin đã có trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm
Khoản 1 Điều 7 Nghị định 326/2026/NĐ-CP đặt ra nguyên tắc mới trong việc khai thác dữ liệu phục vụ giải quyết thủ tục hành chính.
Theo đó, khi chia sẻ, khai thác dữ liệu định danh địa điểm, không yêu cầu cung cấp thành phần hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính mà các thông tin trong thành phần hồ sơ đã có dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm.
Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm được xây dựng từ dữ liệu về địa chỉ, đất đai, công trình kiến trúc, công trình xây dựng, kết cấu xây dựng, nền địa lý... trong các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Do đó, đối với các thủ tục hành chính có sử dụng thông tin về địa điểm, đất đai, công trình..., nếu thông tin thuộc thành phần hồ sơ đã có trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm thì cơ quan giải quyết thủ tục không được yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp lại thành phần hồ sơ chứa thông tin đó.
Cần hiểu chính xác rằng quy định này không mặc nhiên bãi bỏ các giấy tờ trong thành phần hồ sơ của từng thủ tục. Việc không phải cung cấp chỉ áp dụng khi thông tin cần thiết đã có dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm.
RSS