
Đáng chú ý, cơ sở thực hành công tác xã hội và người thực hành được sắp xếp thời gian thực hành hợp lý trên cơ sở thỏa thuận, không bắt buộc phải thực hành đủ thời gian theo giờ hành chính hoặc giờ làm việc của cơ sở.
Theo Điều 4 Thông tư 29/2026/TT-BYT, quy định về thời gian thực hành công tác xã hội như sau:
Thứ nhất, thời gian thực hành đối với trình độ đại học trở lên từ đủ 12 tháng, tương ứng 800 giờ thực hành được thực hiện trong khoảng thời gian đăng ký thực hành.
Thứ hai, thời gian thực hành đối với trình độ cao đẳng từ đủ 09 tháng, tương ứng với 650 giờ thực hành được thực hiện trong khoảng thời gian đăng ký thực hành.
Thứ ba, thời gian thực hành đối với trình độ trung cấp từ đủ 06 tháng, tương ứng với 500 giờ thực hành được thực hiện trong khoảng thời gian đăng ký thực hành.
Thứ tư, cơ sở thực hành công tác xã hội và người thực hành sắp xếp thời gian hợp lý trên cơ sở thỏa thuận để bảo đảm thực hành đủ nội dung thực hành theo quy định, không bắt buộc phải thực hành đủ thời gian theo giờ hành chính hoặc giờ làm việc của cơ sở.
Bên cạnh đó, trong quá trình thực hành công tác xã hội, người thực hành được tham gia tập huấn các quy định pháp luật với tổng thời lượng là 10 buổi. Thời gian tập huấn được tính vào tổng thời gian thực hành công tác xã hội. Đồng thời, người thực hành công tác xã hội tham gia tập huấn phải cung cấp tài liệu minh chứng cho cơ sở thực hành để làm cơ sở tính thời gian thực hành công tác xã hội.
Quy định mới này tạo sự linh hoạt hơn trong tổ chức thực hành công tác xã hội, nhất là đối với người thực hành đang học tập, làm việc hoặc cơ sở thực hành có đặc thù cung cấp dịch vụ ngoài giờ hành chính. Tuy nhiên, việc linh hoạt về thời gian không đồng nghĩa với giảm thời lượng hoặc giảm yêu cầu chuyên môn; người thực hành vẫn phải đáp ứng đủ nội dung thực hành, tổng thời gian thực hành và tuân thủ sự hướng dẫn của cơ sở thực hành theo quy định.
RSS