Nghị định 234/2026/NĐ-CP áp dụng đối với viên chức theo quy định của Luật Viên chức và cả người đã thôi việc, nghỉ hưu. Đồng thời, việc xử lý kỷ luật đối với viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội được thực hiện theo Nghị định này kết hợp với điều lệ của tổ chức tương ứng.
Về nguyên tắc xử lý kỷ luật, Điều 2 Nghị định quy định việc xử lý phải bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh, chính xác, kịp thời, đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục. Mỗi hành vi vi phạm chỉ bị xử lý một lần bằng một hình thức kỷ luật. Trường hợp viên chức có từ hai hành vi vi phạm trở lên thì xem xét từng hành vi nhưng chỉ quyết định một hình thức kỷ luật cao nhất, không tách thành nhiều lần xử lý.

Nghị định 234/2026/NĐ-CP quy định quyết định xử lý kỷ luật có hiệu lực 12 tháng kể từ ngày có hiệu lực thi hành.
Trong thời gian này, nếu viên chức không tiếp tục có hành vi vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì quyết định kỷ luật đương nhiên chấm dứt hiệu lực mà không cần ban hành văn bản chấm dứt hiệu lực. Đồng thời, hình thức kỷ luật phải được ghi vào lý lịch viên chức và cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức hoặc cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo quy định của pháp luật.
Điều 7 Nghị định quy định 04 hình thức kỷ luật áp dụng đối với viên chức gồm: khiển trách, cảnh cáo, cách chức (đối với viên chức quản lý) và buộc thôi việc.
Ngoài việc bị áp dụng một trong các hình thức này, viên chức còn bị hạn chế thực hiện hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp luật có liên quan. Đối với viên chức bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị kết án về tội phạm tham nhũng thì đương nhiên bị buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
Nghị định cũng quy định rõ thời hiệu xử lý kỷ luật là 05 năm đối với hành vi đến mức khiển trách và 10 năm đối với các hành vi còn lại.
Riêng các hành vi như vi phạm đến mức bị khai trừ khỏi Đảng, vi phạm về bảo vệ chính trị nội bộ, xâm hại lợi ích quốc gia trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại hoặc sử dụng văn bằng, chứng chỉ giả thì không áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật. Thời hạn xử lý kỷ luật thông thường không quá 90 ngày, trường hợp vụ việc phức tạp có thể kéo dài nhưng không quá 150 ngày.
Về trình tự xử lý kỷ luật, Điều 13 quy định việc xử lý được thực hiện theo ba bước gồm: tổ chức họp kiểm điểm, thành lập Hội đồng kỷ luật và ra quyết định xử lý kỷ luật. Tuy nhiên, một số trường hợp như đã có quyết định kỷ luật đảng, đã có kết luận của cơ quan có thẩm quyền về hành vi vi phạm hoặc viên chức bị Tòa án kết án thuộc trường hợp đương nhiên buộc thôi việc thì có thể không phải thực hiện đầy đủ các bước này theo quy định của Nghị định.
Nghị định 234/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Kể từ thời điểm này, Nghị định 112/2020/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 71/2023/NĐ-CP và được bãi bỏ một phần bởi Nghị định 172/2025/NĐ-CP) hết hiệu lực thi hành đối với nội dung xử lý kỷ luật viên chức
RSS