Tiền lương làm thêm giờ, làm việc ban đêm là khoản thu nhập phát sinh khá phổ biến đối với người lao động. Vậy tiền lương làm thêm giờ, làm ban đêm có được miễn thuế thu nhập cá nhân?
- 1. Tiền lương làm thêm giờ, làm ban đêm có được miễn thuế thu nhập cá nhân?
- 2. Doanh nghiệp phải xác định tiền lương làm thêm giờ, làm ban đêm được miễn thuế thế nào?
- 2.1. Trường hợp có lập bảng kê riêng
- 2.2. Trường hợp không lập bảng kê riêng
- 3. Tiền lương làm thêm giờ, làm ban đêm vượt mức có phải nộp thuế không?
- 4. Khoản tiền làm thêm giờ, làm ban đêm được xử lý thế nào khi tính thuế tiền lương, tiền công?
- 5. Tiền lương trả cho những ngày không nghỉ phép có được miễn thuế không?
1. Tiền lương làm thêm giờ, làm ban đêm có được miễn thuế thu nhập cá nhân?
Tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ tại nơi làm việc được miễn thuế thu nhập cá nhân nếu phù hợp với quy định về điều kiện và thời gian theo pháp luật về lao động. Trường hợp khoản tiền này vượt mức quy định của pháp luật thì phần vượt mức phải tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân.
Điều 26 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định về tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ như sau:
“Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ tại nơi làm việc phù hợp với quy định về điều kiện và thời gian theo pháp luật về lao động.”
Đồng thời, đối với trường hợp vượt mức, Nghị định quy định:
“Trường hợp tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ, tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép vượt mức quy định của pháp luật thì phần vượt mức quy định tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân.”
Như vậy, phạm vi miễn thuế được xác định gắn với tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ tại nơi làm việc phù hợp với điều kiện và thời gian theo pháp luật về lao động. Nếu khoản tiền được trả vượt mức mà pháp luật quy định thì phần vượt mức không thuộc diện miễn thuế mà được tính vào thu nhập chịu thuế.
2. Doanh nghiệp phải xác định tiền lương làm thêm giờ, làm ban đêm được miễn thuế thế nào?

Đối với khoản tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ được miễn thuế, tổ chức, doanh nghiệp trả thu nhập phải có căn cứ thể hiện rõ thời gian làm đêm, làm thêm giờ và khoản tiền đã trả cho người lao động.
Khoản 1 Điều 26 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định việc chứng minh khoản tiền được miễn thuế có thể thực hiện theo hai trường hợp.
2.1. Trường hợp có lập bảng kê riêng
Tổ chức, doanh nghiệp trả thu nhập phải lập bảng kê phản ánh rõ:
- Thời gian làm đêm tại nơi làm việc;
- Thời gian làm thêm giờ tại nơi làm việc;
- Khoản tiền lương làm đêm đã trả cho người lao động;
- Khoản tiền lương làm thêm giờ đã trả cho người lao động.
Bảng kê được lưu tại tổ chức, doanh nghiệp trả thu nhập và xuất trình khi cơ quan thuế yêu cầu.
Do đó, nội dung bảng kê phải cho phép xác định được thời gian người lao động thực tế làm ban đêm, làm thêm giờ và số tiền tương ứng được người sử dụng lao động chi trả.
2.2. Trường hợp không lập bảng kê riêng
Nghị định 253/2026/NĐ-CP không bắt buộc trong mọi trường hợp phải có một bảng kê riêng biệt. Nếu không lập bảng kê riêng, tổ chức trả thu nhập vẫn phải chứng minh được khoản tiền lương, tiền công làm ban đêm, làm thêm giờ thông qua:
- Bảng lương;
- Bảng chấm công;
- Hợp đồng lao động;
- Các tài liệu hợp pháp khác.
Các tài liệu này là căn cứ để thể hiện việc người lao động có làm việc ban đêm, làm thêm giờ tại nơi làm việc và khoản tiền tương ứng đã được trả cho người lao động.
3. Tiền lương làm thêm giờ, làm ban đêm vượt mức có phải nộp thuế không?
Có, phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ vượt mức quy định của pháp luật phải tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân.
Khoản 3 Điều 26 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định nguyên văn:
“Trường hợp tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ, tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép vượt mức quy định của pháp luật thì phần vượt mức quy định tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân.”
Theo đó, khi xác định thu nhập được miễn thuế, cần tách khoản tiền thuộc mức phù hợp với quy định của pháp luật và phần vượt mức. Phần vượt mức được đưa vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân, trừ thu nhập được miễn thuế tại Mục 1 Chương III như là:
- Thu nhập từ chuyển nhượng, nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản;
- Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở duy nhất của cá nhân;
- Thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được Nhà nước giao đất;
- Thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường; sản xuất muối;
- Thu nhập từ lợi tức cổ phần của thành viên hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp, cá nhân là nông dân ký kết hợp đồng với doanh nghiệp tham gia “Cánh đồng lớn”, trồng rừng sản xuất, nuôi trồng thủy sản;
- Thu nhập từ chuyển đổi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao để sản xuất;
- Thu nhập từ lãi trái phiếu Chính phủ, lãi trái phiếu chính quyền địa phương, lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng, lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ;
- ….
Trong khi đó, tiền lương, tiền công về nguyên tắc là một loại thu nhập chịu thuế. Khoản 1 Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP xác định thu nhập từ tiền lương, tiền công bao gồm tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động dưới mọi hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền.
Riêng khoản tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ đáp ứng Điều 26 được đưa vào nhóm thu nhập được miễn thuế, nên không tính vào phần thu nhập chịu thuế tương ứng.
4. Khoản tiền làm thêm giờ, làm ban đêm được xử lý thế nào khi tính thuế tiền lương, tiền công?
Đối với cá nhân cư trú, thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công được xác định trên cơ sở thu nhập tính thuế và Biểu thuế lũy tiến từng phần.
Khoản 2 Điều 46 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là tổng thu nhập chịu thuế mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế, sau đó trừ các khoản được giảm trừ theo quy định.
Đối với trường hợp trả thu nhập không bao gồm thuế, Nghị định cũng xác định rõ thu nhập thực nhận dùng làm căn cứ quy đổi không bao gồm các khoản thu nhập không tính vào thu nhập chịu thuế tại Điều 8 (về thu nhập từ tiền lương, tiền công) và thu nhập được miễn thuế tại Mục 1 Chương III.
5. Tiền lương trả cho những ngày không nghỉ phép có được miễn thuế không?
Ngoài tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ, Điều 26 Nghị định 253/2026/NĐ-CP còn quy định về tiền lương, tiền công trả cho những ngày người lao động không nghỉ phép.
Khoản 2 Điều 26 quy định:
“Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép phù hợp với quy định về điều kiện và mức tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép theo quy định tại khoản 3 Điều 113 của Bộ luật Lao động và quy định của Luật Cán bộ công chức, Luật Viên chức.”
Khoản tiền này cũng chỉ được miễn trong phạm vi phù hợp với điều kiện và mức tiền lương, tiền công theo quy định được Điều 26 dẫn chiếu.
Nếu tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép vượt mức quy định của pháp luật thì phần vượt mức phải tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân, cùng nguyên tắc áp dụng đối với tiền lương làm việc ban đêm và làm thêm giờ (theo khoản 3 Điều 26 Nghị định 253/2026/NĐ-CP).
Trên đây là thông tin về “Tiền lương làm thêm giờ, làm ban đêm có được miễn thuế thu nhập cá nhân”. Theo Nghị định 253/2026/NĐ-CP, tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ tại nơi làm việc phù hợp với quy định về điều kiện và thời gian theo pháp luật về lao động được miễn thuế thu nhập cá nhân; phần vượt mức quy định của pháp luật phải tính vào thu nhập chịu thuế.
RSS