Việc thay đổi bậc nghề nghiệp của viên chức được thực hiện căn cứ vào nhu cầu sử dụng nhân sự, kết quả đánh giá công việc và các điều kiện cụ thể. Vậy Nghị định 259/2026/NĐ-CP quy định việc thay đổi bậc nghề nghiệp của viên chức như thế nào?
- 1. Nghị định 259/2026/NĐ-CP quy định việc thay đổi bậc nghề nghiệp của viên chức như thế nào?
- 1.1. Những căn cứ để thay đổi bậc nghề nghiệp
- 1.2. Nguyên tắc thay đổi bậc nghề nghiệp
- 2. Điều kiện thay đổi bậc nghề nghiệp của viên chức từ thấp lên cao
- 3. Trường hợp nào viên chức bị thay đổi bậc nghề nghiệp từ cao xuống thấp?
- 3.1. Viên chức không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của bậc nghề nghiệp đang đảm nhiệm
- 3.2. Viên chức có nguyện vọng chuyển xuống bậc nghề nghiệp thấp hơn
- 4. Trình tự thực hiện thay đổi bậc nghề nghiệp của viên chức
- 4.1. Xây dựng phương án thay đổi bậc nghề nghiệp
- 4.2. Đánh giá, lựa chọn viên chức khi số người đủ điều kiện nhiều hơn số lượng được bố trí
- 4.3. Thẩm quyền quyết định thay đổi bậc nghề nghiệp
- 5. Viên chức thay đổi bậc nghề nghiệp được xếp lương như thế nào?
1. Nghị định 259/2026/NĐ-CP quy định việc thay đổi bậc nghề nghiệp của viên chức như thế nào?
Điều 25 Nghị định 259/2026/NĐ-CP quy định việc thay đổi bậc nghề nghiệp của viên chức là việc xếp viên chức vào bậc nghề nghiệp khác trong cùng vị trí việc làm tại đơn vị sự nghiệp theo quyết định của cấp có thẩm quyền. Việc thay đổi có thể thực hiện từ bậc thấp lên bậc cao hoặc từ bậc cao xuống bậc thấp, tùy thuộc vào điều kiện và trường hợp cụ thể.
Theo khoản 1 Điều 25 Nghị định 259/2026/NĐ-CP, viên chức được xếp vào bậc nghề nghiệp nào thì được xếp lương tương ứng với bậc nghề nghiệp đó.
Như vậy, thay đổi bậc nghề nghiệp không đồng nghĩa với việc chuyển sang một vị trí việc làm khác. Đây là việc điều chỉnh bậc nghề nghiệp của viên chức trong chính vị trí việc làm đang đảm nhiệm.
1.1. Những căn cứ để thay đổi bậc nghề nghiệp
Khoản 2 Điều 25 Nghị định 259/2026/NĐ-CP xác định 04 căn cứ khi thay đổi bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm, bao gồm:
- Số bậc nghề nghiệp áp dụng trong từng vị trí việc làm;
- Nhu cầu sử dụng viên chức theo từng bậc nghề nghiệp của đơn vị sự nghiệp công lập;
- Tỷ lệ viên chức bố trí theo từng bậc của vị trí việc làm;
- Kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức.
Theo đó, việc xem xét thay đổi bậc nghề nghiệp phải gắn với cơ cấu bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm, nhu cầu sử dụng viên chức và kết quả thực hiện nhiệm vụ.
1.2. Nguyên tắc thay đổi bậc nghề nghiệp
Khoản 3 Điều 25 Nghị định 259/2026/NĐ-CP yêu cầu việc thay đổi bậc nghề nghiệp phải bảo đảm tương quan giữa bậc nghề nghiệp dự kiến bố trí với trình độ, năng lực và hiệu suất thực hiện nhiệm vụ của viên chức.
Việc xác định sự tương quan này căn cứ vào các tiêu chí cụ thể:
- Mức độ hoàn thành nhiệm vụ;
- Độ khó, mức độ phức tạp của nhiệm vụ;
- Yêu cầu về tiến độ, chất lượng kết quả và sản phẩm đầu ra;
- Trách nhiệm cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ;
- Mức độ quan trọng và ảnh hưởng của công việc đảm nhiệm đến kết quả hoạt động chung của đơn vị.
Ngoài ra, việc thay đổi bậc nghề nghiệp không được vượt quá tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Toàn bộ quá trình thực hiện phải bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, công bằng và đúng thẩm quyền.

2. Điều kiện thay đổi bậc nghề nghiệp của viên chức từ thấp lên cao
Viên chức muốn được xem xét bố trí vào bậc nghề nghiệp cao hơn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện tại khoản 4 Điều 25 Nghị định 259/2026/NĐ-CP.
Cụ thể, các điều kiện gồm:
Thứ nhất, đơn vị có nhu cầu sử dụng viên chức ở bậc nghề nghiệp cao hơn.
Điểm a khoản 4 Điều 25 yêu cầu đơn vị sự nghiệp công lập phải có nhu cầu sử dụng viên chức ở bậc nghề nghiệp cao hơn.
Đây là một trong những điều kiện bắt buộc khi xem xét thay đổi bậc nghề nghiệp từ thấp lên cao.
Thứ hai, còn số lượng viên chức được bố trí ở bậc nghề nghiệp cao hơn.
Điểm b khoản 4 Điều 25 quy định đơn vị phải còn số lượng theo tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Vì vậy, việc bố trí viên chức lên bậc nghề nghiệp cao hơn phải nằm trong tỷ lệ đã được phê duyệt.
Thứ ba, đạt mức hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên.
Theo điểm c khoản 4 Điều 25, viên chức phải được xếp loại chất lượng ở mức hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên trong năm công tác liền kề trước năm thay đổi bậc nghề nghiệp.
Điều kiện này gắn việc thay đổi bậc nghề nghiệp với kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức.
Thứ tư, không thuộc các trường hợp liên quan đến kỷ luật hoặc tố tụng theo quy định.
Điểm d khoản 4 Điều 25 Nghị định 259/2026/NĐ-CP yêu cầu viên chức:
- Không đang trong thời hạn xử lý kỷ luật;
- Không đang trong thời gian chấp hành quyết định kỷ luật;
- Không đang trong thời gian bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử;
- Không đang trong thời gian thực hiện các quy định liên quan đến kỷ luật theo quy định của Đảng và pháp luật.
Thứ năm, kết quả thực hiện nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu của bậc nghề nghiệp dự kiến bố trí.
Điểm đ khoản 4 Điều 25 yêu cầu viên chức có kết quả thực hiện nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu của bậc nghề nghiệp dự kiến bố trí theo tiêu chí đánh giá quy định tại khoản 8 Điều này.
Các tiêu chí và phương pháp đánh giá cụ thể do người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập quy định, phù hợp với Nghị định và đặc thù hoạt động của đơn vị.
Như vậy, viên chức chỉ được xem xét thay đổi bậc nghề nghiệp từ thấp lên cao khi đáp ứng đồng thời các điều kiện về nhu cầu sử dụng, tỷ lệ bố trí, kết quả xếp loại chất lượng, tình trạng kỷ luật và khả năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
3. Trường hợp nào viên chức bị thay đổi bậc nghề nghiệp từ cao xuống thấp?
Không chỉ quy định việc thay đổi từ bậc thấp lên bậc cao, Nghị định 259/2026/NĐ-CP còn xác định những trường hợp viên chức được bố trí xuống bậc nghề nghiệp thấp hơn.
Khoản 5 Điều 25 Nghị định 259/2026/NĐ-CP quy định 02 trường hợp cụ thể.
3.1. Viên chức không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của bậc nghề nghiệp đang đảm nhiệm
Điểm a khoản 5 Điều 25 quy định việc thay đổi từ bậc nghề nghiệp cao xuống thấp được thực hiện khi viên chức không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của bậc nghề nghiệp thuộc vị trí việc làm.
Việc xác định căn cứ vào:
- Kết quả đánh giá, xếp loại hằng năm;
- Kết quả theo dõi, đánh giá thường xuyên.
Đáng chú ý, quy định này còn đề cập trường hợp không có bậc nghề nghiệp thấp hơn phù hợp với năng lực, trình độ của viên chức.
Khi đó, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập xem xét thực hiện giải quyết chế độ thôi việc hoặc tinh giản biên chế.
Như vậy, việc thay đổi bậc nghề nghiệp xuống thấp phải dựa trên kết quả đánh giá và khả năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của viên chức.
3.2. Viên chức có nguyện vọng chuyển xuống bậc nghề nghiệp thấp hơn
Bên cạnh trường hợp không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, điểm b khoản 5 Điều 25 Nghị định 259/2026/NĐ-CP cho phép thay đổi bậc nghề nghiệp từ cao xuống thấp theo nguyện vọng cá nhân và được cấp có thẩm quyền đồng ý.
Theo quy định này, nguyện vọng của viên chức phải đi kèm với sự đồng ý của cấp có thẩm quyền.
Do đó, việc thay đổi bậc nghề nghiệp từ cao xuống thấp có thể xuất phát từ kết quả đánh giá công việc hoặc nguyện vọng cá nhân, tương ứng với hai trường hợp được Nghị định quy định.
4. Trình tự thực hiện thay đổi bậc nghề nghiệp của viên chức
Khoản 6, khoản 7 và khoản 8 Điều 25 Nghị định 259/2026/NĐ-CP quy định trách nhiệm xây dựng phương án, đánh giá và quyết định thay đổi bậc nghề nghiệp.
4.1. Xây dựng phương án thay đổi bậc nghề nghiệp
Khoản 6 Điều 25 giao người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập trách nhiệm xây dựng phương án thay đổi bậc nghề nghiệp đối với viên chức thuộc phạm vi quản lý.
Phương án phải có các nội dung:
- Tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
- Số lượng viên chức hiện có theo từng bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm;
- Kết quả đánh giá, xếp loại hằng năm và kết quả theo dõi, đánh giá thường xuyên của viên chức dự kiến bố trí vào bậc nghề nghiệp mới;
- Khả năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và độ phức tạp của công việc tương ứng với bậc nghề nghiệp dự kiến bố trí;
- Số lượng viên chức đáp ứng đủ tiêu chuẩn, điều kiện để bố trí vào bậc nghề nghiệp mới.
Các nội dung này là căn cứ để đơn vị xác định nhu cầu, số lượng và những viên chức đáp ứng yêu cầu thay đổi bậc nghề nghiệp.
4.2. Đánh giá, lựa chọn viên chức khi số người đủ điều kiện nhiều hơn số lượng được bố trí
Một trường hợp được khoản 6 Điều 25 Nghị định 259/2026/NĐ-CP quy định riêng là số lượng viên chức đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn nhiều hơn số lượng được bố trí vào bậc nghề nghiệp theo tỷ lệ đã phê duyệt.
Trong trường hợp này, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập tổ chức đánh giá cụ thể từng trường hợp thông qua:
- Hội đồng đánh giá; hoặc
- Hình thức phù hợp khác do người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập quyết định.
Việc lựa chọn viên chức để bố trí vào bậc nghề nghiệp mới được thực hiện theo thứ tự kết quả đánh giá từ cao xuống thấp.
Đồng thời, quá trình lựa chọn phải bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan và đúng quy định.
4.3. Thẩm quyền quyết định thay đổi bậc nghề nghiệp
Khoản 7 Điều 25 Nghị định 259/2026/NĐ-CP xác định người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định việc thay đổi bậc nghề nghiệp đối với viên chức theo phân cấp quản lý.
Ngoài ra, khoản 8 Điều 25 giao người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập quy định cụ thể:
- Tiêu chí đánh giá;
- Phương pháp đánh giá;
- Trình tự thực hiện việc thay đổi bậc nghề nghiệp trong đơn vị.
Các nội dung này phải bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, định lượng, phù hợp với Nghị định 259/2026/NĐ-CP và đặc thù hoạt động của đơn vị.
5. Viên chức thay đổi bậc nghề nghiệp được xếp lương như thế nào?
Về chế độ tiền lương, khoản 1 Điều 25 Nghị định 259/2026/NĐ-CP xác định nguyên tắc: Viên chức được xếp vào bậc nghề nghiệp nào thì được xếp lương tương ứng với bậc nghề nghiệp đó.
Theo đó, việc xếp lương gắn với bậc nghề nghiệp mới mà viên chức được cấp có thẩm quyền quyết định bố trí.
Đối với cách thức xếp lương cụ thể khi thay đổi bậc nghề nghiệp, khoản 9 Điều 25 Nghị định 259/2026/NĐ-CP giao Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện.
Ngoài ra, cần phân biệt thay đổi bậc nghề nghiệp với thay đổi vị trí việc làm.
Khoản 1 Điều 26 Nghị định 259/2026/NĐ-CP quy định thay đổi vị trí việc làm là việc viên chức được bố trí từ vị trí việc làm này sang vị trí việc làm khác trong danh mục vị trí việc làm được sử dụng trong đơn vị.
Đối với trường hợp thay đổi vị trí việc làm đồng thời làm thay đổi bậc nghề nghiệp, khoản 5 Điều 26 yêu cầu phải bảo đảm các nguyên tắc, điều kiện liên quan đến thay đổi bậc nghề nghiệp tại Điều 25 Nghị định này.
Như vậy, dù việc thay đổi bậc nghề nghiệp diễn ra trong cùng vị trí việc làm hay gắn với việc chuyển sang vị trí việc làm khác, các yêu cầu tương ứng tại Điều 25 vẫn phải được bảo đảm.
RSS