Thông tư 40/2026/TT-NHNN quy định cụ thể các trường hợp quỹ tín dụng nhân dân mất khả năng chi trả hoặc có nguy cơ mất khả năng chi trả, đồng thời xác định trách nhiệm báo cáo, thông báo khi xảy ra tình trạng này. Vậy khi nào quỹ tín dụng nhân dân được xác định mất khả năng chi trả hoặc có nguy cơ mất khả năng chi trả?
- 1. Các trường hợp quỹ tín dụng nhân dân mất khả năng chi trả hoặc có nguy cơ mất khả năng chi trả
- 1.1. Có nguy cơ mất khả năng chi trả khi thiếu hụt tài sản thanh toán từ 20% trong 30 ngày liên tục
- 1.2. Mất khả năng chi trả khi không thanh toán nghĩa vụ nợ trong 01 tháng kể từ ngày đến hạn
- 2. Thông báo khi quỹ tín dụng nhân dân mất khả năng chi trả
- 2.1. Cơ quan, tổ chức tiếp nhận báo cáo và thông báo
- 2.2. Những nội dung phải báo cáo, thông báo
- 3. Trách nhiệm quản lý và theo dõi khả năng chi trả của quỹ tín dụng nhân dân
- 3.1. Phải có phương án xử lý khi tỷ lệ khả năng chi trả vi phạm quy định
- 3.2. Theo dõi khả năng chi trả thông qua hệ thống công nghệ thông tin

1. Các trường hợp quỹ tín dụng nhân dân mất khả năng chi trả hoặc có nguy cơ mất khả năng chi trả
1.1. Có nguy cơ mất khả năng chi trả khi thiếu hụt tài sản thanh toán từ 20% trong 30 ngày liên tục
Khoản 1 Điều 13 Thông tư 40/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định:
“Quỹ tín dụng nhân dân có nguy cơ mất khả năng chi trả khi thiếu hụt Tài sản ‘Có’ có thể thanh toán ngay ở mức 20% trở lên tại thời điểm tính toán tỷ lệ khả năng chi trả so với Tài sản ‘Có’ có thể thanh toán ngay tối thiểu để tuân thủ tỷ lệ khả năng chi trả theo quy định tại Thông tư này trong thời gian 30 ngày liên tục.”
Như vậy, quỹ tín dụng nhân dân được xác định có nguy cơ mất khả năng chi trả khi đáp ứng đồng thời hai điều kiện:
- Về mức độ thiếu hụt: Tài sản “Có” có thể thanh toán ngay bị thiếu hụt từ 20% trở lên so với mức tài sản “Có” có thể thanh toán ngay tối thiểu cần có để tuân thủ tỷ lệ khả năng chi trả.
- Về thời gian: Tình trạng thiếu hụt nêu trên diễn ra trong 30 ngày liên tục.
Theo khoản 2 Điều 9 Thông tư 40/2026/TT-NHNN, quỹ tín dụng nhân dân phải duy trì tỷ lệ khả năng chi trả tối thiểu 100% đối với ngày làm việc tiếp theo và khoảng thời gian 07 ngày làm việc tiếp theo. Do đó, việc xác định tình trạng có nguy cơ mất khả năng chi trả phải căn cứ vào mức thiếu hụt tài sản “Có” có thể thanh toán ngay và thời gian thiếu hụt theo đúng điều kiện.
Mức thiếu hụt 20% không phải là tỷ lệ khả năng chi trả tối thiểu mà là ngưỡng thiếu hụt tài sản được sử dụng để xác định tình trạng có nguy cơ mất khả năng chi trả.
1.2. Mất khả năng chi trả khi không thanh toán nghĩa vụ nợ trong 01 tháng kể từ ngày đến hạn
Khác với trường hợp có nguy cơ mất khả năng chi trả, khoản 2 Điều 13 Thông tư 40/2026/TT-NHNN quy định:
“Quỹ tín dụng nhân dân mất khả năng chi trả khi không thực hiện thanh toán nghĩa vụ nợ trong thời gian 01 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.”
Theo đó, quỹ tín dụng nhân dân được xác định mất khả năng chi trả khi không thực hiện thanh toán nghĩa vụ nợ trong thời gian 01 tháng kể từ ngày nghĩa vụ nợ đến hạn.
Quy định này xác định tình trạng mất khả năng chi trả dựa trên việc thực hiện nghĩa vụ nợ đã đến hạn, thay vì căn cứ vào mức thiếu hụt tài sản “Có” có thể thanh toán ngay trong 30 ngày liên tục như trường hợp có nguy cơ mất khả năng chi trả.
Như vậy, Điều 13 Thông tư 40/2026/TT-NHNN phân biệt hai tình trạng:
- Có nguy cơ mất khả năng chi trả: Căn cứ vào mức thiếu hụt tài sản “Có” có thể thanh toán ngay từ 20% trở lên trong 30 ngày liên tục.
- Mất khả năng chi trả: Căn cứ vào việc không thực hiện thanh toán nghĩa vụ nợ trong thời gian 01 tháng kể từ ngày đến hạn.
2. Thông báo khi quỹ tín dụng nhân dân mất khả năng chi trả
2.1. Cơ quan, tổ chức tiếp nhận báo cáo và thông báo
Khoản 3 Điều 13 Thông tư 40/2026/TT-NHNN quy định:
“Khi mất khả năng chi trả, có nguy cơ mất khả năng chi trả hoặc trường hợp quỹ tín dụng nhân dân tự đánh giá không có khả năng chi trả, quỹ tín dụng nhân dân phải kịp thời báo cáo với Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực và thông báo cho Ngân hàng Hợp tác xã chi nhánh về thực trạng, nguyên nhân, các biện pháp đã áp dụng, các biện pháp dự kiến áp dụng để khắc phục và các đề xuất, kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực (nếu có).”
Theo quy định này, quỹ tín dụng nhân dân phải thực hiện hai trách nhiệm:
- Báo cáo Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực: Đây là cơ quan tiếp nhận báo cáo về tình trạng mất khả năng chi trả, nguy cơ mất khả năng chi trả hoặc trường hợp quỹ tự đánh giá không có khả năng chi trả.
- Thông báo cho Ngân hàng Hợp tác xã chi nhánh: Quỹ tín dụng nhân dân phải thông báo về tình trạng và các nội dung liên quan theo quy định.
Trách nhiệm báo cáo, thông báo không chỉ phát sinh khi quỹ tín dụng nhân dân đã mất khả năng chi trả hoặc có nguy cơ mất khả năng chi trả theo các điều kiện tại khoản 1 và khoản 2 Điều 13. Thông tư còn yêu cầu thực hiện trách nhiệm này trong trường hợp quỹ tín dụng nhân dân tự đánh giá không có khả năng chi trả.
2.2. Những nội dung phải báo cáo, thông báo
Khoản 3 Điều 13 Thông tư 40/2026/TT-NHNN, nội dung báo cáo, thông báo phải thể hiện:
- Thực trạng: Tình hình mất khả năng chi trả, có nguy cơ mất khả năng chi trả hoặc tình trạng không có khả năng chi trả theo đánh giá của quỹ.
- Nguyên nhân: Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên.
- Các biện pháp đã áp dụng: Những biện pháp quỹ tín dụng nhân dân đã thực hiện để xử lý, khắc phục.
- Các biện pháp dự kiến áp dụng: Phương án, biện pháp dự kiến triển khai trong thời gian tiếp theo.
- Đề xuất, kiến nghị: Các đề xuất, kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực, nếu có.
Về thời điểm thực hiện, khoản 3 Điều 13 yêu cầu quỹ tín dụng nhân dân phải kịp thời báo cáo và thông báo khi xảy ra một trong các trường hợp nêu trên.
3. Trách nhiệm quản lý và theo dõi khả năng chi trả của quỹ tín dụng nhân dân
3.1. Phải có phương án xử lý khi tỷ lệ khả năng chi trả vi phạm quy định
Bên cạnh trách nhiệm báo cáo, thông báo, Thông tư 40/2026/TT-NHNN còn yêu cầu quỹ tín dụng nhân dân xây dựng quy định nội bộ về quản lý thanh khoản.
Theo điểm đ khoản 4 Điều 5 Thông tư 40/2026/TT-NHNN, quy định nội bộ về quản lý thanh khoản phải:
“Có phương án xử lý khi tỷ lệ khả năng chi trả, tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn, tỷ lệ tổng mức nhận tiền gửi so với vốn chủ sở hữu vi phạm quy định tại Thông tư này [...]”
Trong đó, phương án xử lý phải có tối thiểu:
- Các biện pháp xử lý để tỷ lệ khả năng chi trả và các tỷ lệ quản lý thanh khoản khác tuân thủ quy định;
- Trách nhiệm, quyền hạn và sự phối hợp của các bộ phận, cá nhân trong việc thực hiện phương án xử lý.
Ngoài ra, điểm d khoản 4 Điều 5 yêu cầu quy định nội bộ phải có phương pháp cảnh báo sớm về rủi ro thiếu hụt khả năng chi trả, thanh khoản. Điểm e cùng khoản cũng yêu cầu có giải pháp duy trì tài sản “Có” có thể thanh toán ngay. Như vậy, quỹ tín dụng nhân dân phải có quy định nội bộ để theo dõi, cảnh báo và xử lý khi tỷ lệ khả năng chi trả không đáp ứng yêu cầu.
3.2. Theo dõi khả năng chi trả thông qua hệ thống công nghệ thông tin
Điều 4 Thông tư 40/2026/TT-NHNN quy định quỹ tín dụng nhân dân phải có hệ thống công nghệ thông tin để thực hiện các yêu cầu của Thông tư.
Trong đó, khoản 2 Điều 4 Thông tư quy định hệ thống phải đáp ứng yêu cầu:
“Thống kê, theo dõi các khoản mục vốn, tài sản, nợ phải trả; tính toán, quản lý, giám sát các hạn chế, giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động tại Thông tư này.”
Theo đó, hệ thống công nghệ thông tin phải phục vụ việc theo dõi các khoản mục tài sản, nợ phải trả và tính toán, giám sát tỷ lệ khả năng chi trả.
Đồng thời, theo khoản 6 Điều 5, quỹ tín dụng nhân dân phải rà soát, đánh giá lại, sửa đổi, bổ sung quy định nội bộ định kỳ ít nhất 01 năm một lần và khi cần thiết để phù hợp với yêu cầu bảo đảm an toàn trong hoạt động.
Trên đây là thông tin về khi nào quỹ tín dụng nhân dân được xác định mất khả năng chi trả hoặc có nguy cơ mất khả năng chi trả. Vui lòng xem chi tiết Thông tư 40/2026/TT-NHNN trên LuatVietnam.vn và các tính năng liên quan như: Tình trạng hiệu lực, Lược đồ...
RSS