Nghị định 224/2026/NĐ-CP đã quy định cụ thể hai khái niệm dịch vụ công nghệ số sẵn có và không sẵn có trên thị trường, đồng thời có cách quản lý khác nhau khi thuê từng loại dịch vụ. Vậy dịch vụ công nghệ số sẵn có và không sẵn có trên thị trường là gì?
- 1. Dịch vụ công nghệ số sẵn có và không sẵn có trên thị trường là gì?
- 1.1. Dịch vụ công nghệ số sẵn có trên thị trường là gì?
- 1.2. Dịch vụ công nghệ số không sẵn có trên thị trường là gì?
- 2. Cơ quan nhà nước có ưu tiên thuê dịch vụ công nghệ số sẵn có trên thị trường không?
- 3. Thuê dịch vụ công nghệ số sẵn có và không sẵn có trên thị trường được thực hiện thế nào?
- 3.1. Thuê dịch vụ công nghệ số sẵn có trên thị trường
- 3.2. Thuê dịch vụ công nghệ số không sẵn có trên thị trường
1. Dịch vụ công nghệ số sẵn có và không sẵn có trên thị trường là gì?
Dịch vụ công nghệ số sẵn có và không sẵn có trên thị trường đều là sản phẩm công nghệ số được cung cấp dưới dạng dịch vụ.
Theo Nghị định 224/2026/NĐ-CP, điểm khác nhau nằm ở cách hình thành và cung cấp dịch vụ:
- Dịch vụ công nghệ số sẵn có trên thị trường là dịch vụ đã được phát triển, công bố và cung cấp rộng rãi;
- Dịch vụ công nghệ số không sẵn có trên thị trường là dịch vụ được xây dựng, phát triển theo yêu cầu riêng để đáp ứng yêu cầu đặc thù của cơ quan, tổ chức.
Cụ thể như sau:
1.1. Dịch vụ công nghệ số sẵn có trên thị trường là gì?
Khoản 1 Điều 3 Nghị định 224/2026/NĐ-CP quy định:
“Dịch vụ công nghệ số sẵn có trên thị trường là sản phẩm công nghệ số dưới dạng dịch vụ được nhà cung cấp phát triển, công bố và cung cấp rộng rãi cho nhiều khách hàng. Cơ quan, tổ chức có thể sử dụng dịch vụ theo điều kiện do nhà cung cấp công bố mà không phải thông qua việc xây dựng, phát triển dịch vụ mới nhằm đáp ứng yêu cầu đặc thù của cơ quan, tổ chức. Dịch vụ công nghệ thông tin sẵn có trên thị trường là bộ phận của dịch vụ công nghệ số sẵn có trên thị trường.”
Theo quy định này, dịch vụ công nghệ số sẵn có trên thị trường gồm các đặc điểm:
- Là sản phẩm công nghệ số dưới dạng dịch vụ;
- Đã được nhà cung cấp phát triển, công bố;
- Được cung cấp rộng rãi cho nhiều khách hàng;
- Cơ quan, tổ chức sử dụng dịch vụ theo điều kiện do nhà cung cấp công bố;
- Không phải xây dựng, phát triển một dịch vụ mới để đáp ứng yêu cầu đặc thù của cơ quan, tổ chức.
Dịch vụ công nghệ thông tin sẵn có trên thị trường cũng được xác định là một bộ phận của dịch vụ công nghệ số sẵn có trên thị trường.
1.2. Dịch vụ công nghệ số không sẵn có trên thị trường là gì?
Khoản 2 Điều 3 Nghị định 224/2026/NĐ-CP quy định, dịch vụ công nghệ số không sẵn có trên thị trường là dịch vụ:
- Là sản phẩm công nghệ số dưới dạng dịch vụ;
- Được xây dựng, phát triển và cung cấp theo yêu cầu riêng;
- Mục đích là đáp ứng yêu cầu đặc thù của cơ quan, tổ chức.
Dịch vụ công nghệ thông tin không sẵn có trên thị trường là một bộ phận của nhóm dịch vụ công nghệ số này.

2. Cơ quan nhà nước có ưu tiên thuê dịch vụ công nghệ số sẵn có trên thị trường không?
Khoản 4 Điều 36 Nghị định 224/2026/NĐ-CP quy định cơ quan nhà nước ưu tiên thuê dịch vụ đối với hệ thống số, nền tảng số, hệ thống thông tin, phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu được cung cấp dưới dạng dịch vụ công nghệ số sẵn có trên thị trường.
Cụ thể, khoản 4 Điều 36 Nghị định 224 quy định:
“Cơ quan nhà nước ưu tiên thuê dịch vụ đối với những hệ thống số, nền tảng số, hệ thống thông tin, phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu được cung cấp dưới dạng dịch vụ công nghệ số sẵn có trên thị trường; không thực hiện thuê dịch vụ công nghệ số đối với việc nâng cấp, mở rộng các hệ thống số, nền tảng số, hệ thống thông tin, phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu đã được đầu tư, mua sắm và những hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật về an ninh mạng.”
Theo quy định trên, việc ưu tiên thuê áp dụng đối với: Hệ thống số; Nền tảng số; Hệ thống thông tin; Phần cứng; Phần mềm; Cơ sở dữ liệu, khi các sản phẩm này được cung cấp dưới dạng dịch vụ công nghệ số sẵn có trên thị trường.
Khoản 4 Điều 36 Nghị định này đồng thời quy định không thực hiện thuê dịch vụ công nghệ số đối với:
- Việc nâng cấp, mở rộng hệ thống số, nền tảng số, hệ thống thông tin, phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu đã được đầu tư, mua sắm;
- Hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật về an ninh mạng.
3. Thuê dịch vụ công nghệ số sẵn có và không sẵn có trên thị trường được thực hiện thế nào?
Nghị định 224/2026/NĐ-CP có quy định khác nhau đối với hoạt động thuê dịch vụ công nghệ số sẵn có và không sẵn có trên thị trường khi sử dụng kinh phí chi thường xuyên nguồn vốn ngân sách nhà nước. Cụ thể:
3.1. Thuê dịch vụ công nghệ số sẵn có trên thị trường
Điểm b khoản 1 Điều 65 Nghị định 224/2026/NĐ-CP quy định, sau khi được phân bổ dự toán kinh phí chi thường xuyên ngân sách nhà nước, việc thuê dịch vụ công nghệ số sẵn có trên thị trường được tổ chức thực hiện mua sắm, thuê dịch vụ và sử dụng kinh phí theo pháp luật về ngân sách nhà nước, đấu thầu, quản lý, sử dụng tài sản công và pháp luật có liên quan.
Đối với trường hợp này, không phải lập dự án, kế hoạch thuê dịch vụ công nghệ số. Riêng đối với dịch vụ công nghệ số sẵn có trên thị trường, quy định cụ thể như sau:
- Cơ quan, tổ chức được thực hiện thuê dịch vụ công nghệ số trong nhiều năm nhằm bảo đảm hoạt động ổn định, liên tục của dịch vụ;
- Giá thuê dịch vụ, tính theo đơn giá của từng dịch vụ sử dụng hoặc đơn giá sản phẩm đầu ra của dịch vụ, được xác định trên cơ sở báo giá của nhà cung cấp dịch vụ tại thời điểm thuê dịch vụ;
- Trường hợp cấp có thẩm quyền quyết định thuê dịch vụ yêu cầu phải lập kế hoạch thuê dịch vụ công nghệ số thì việc lập kế hoạch thuê thực hiện theo Điều 67 Nghị định 224/2026/NĐ-CP.
3.2. Thuê dịch vụ công nghệ số không sẵn có trên thị trường
Khoản 3 Điều 65 Nghị định 224/2026/NĐ-CP quy định:
“Đối với hoạt động thuê dịch vụ công nghệ số không sẵn có trên thị trường, sau khi được phân bổ dự toán kinh phí chi thường xuyên ngân sách nhà nước thì tổ chức thực hiện theo hình thức kế hoạch thuê dịch vụ công nghệ số quy định tại Điều 67 của Nghị định này.”
Như vậy, đối với loại dịch vụ này, Điều 67 Nghị định 224/2026/NĐ-CP quy định cụ thể về quản lý thực hiện thuê dịch vụ công nghệ số không sẵn có trên thị trường.
Theo đó, sau khi được phân bổ dự toán kinh phí chi thường xuyên ngân sách nhà nước, đơn vị sử dụng ngân sách là chủ trì thuê thực hiện các công việc gồm:
- Tự thực hiện hoặc thuê tổ chức, cá nhân tổ chức khảo sát nếu thấy cần thiết;
- Lập kế hoạch thuê dịch vụ công nghệ số;
- Trình cấp có thẩm quyền quyết định phê duyệt kế hoạch thuê;
- Tổ chức triển khai thuê dịch vụ công nghệ số.
Hồ sơ thẩm định gồm tờ trình; kế hoạch thuê; quyết định phê duyệt chủ trương và dự kiến kinh phí theo quy định; báo cáo thẩm tra kế hoạch thuê nếu có và các tài liệu liên quan khác nếu có.
Khoản 2 Điều 67 Nghị định này cũng quy định kế hoạch thuê phải có các nội dung chính như:
- Hiện trạng và sự cần thiết thuê dịch vụ;
- Các hạng mục cần thuê;
- Mục tiêu, nội dung, quy mô, phạm vi và đơn vị sử dụng;
- Yêu cầu chất lượng dịch vụ; yêu cầu về kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu;
- Việc sở hữu, quản lý, chuyển giao thông tin, dữ liệu;
- Thời gian thuê và dự toán thuê dịch vụ.
Dịch vụ công nghệ số không sẵn có trên thị trường còn phải được tổ chức vận hành thử đạt yêu cầu chất lượng dịch vụ trước khi nghiệm thu, cung cấp dịch vụ để sử dụng.
Quá trình cung cấp dịch vụ phải thực hiện giám sát chất lượng; sau khi kết thúc thời gian thuê, nhà thầu phải bàn giao toàn bộ thông tin, dữ liệu hình thành trong quá trình thuê cho chủ trì thuê (khoản 5, khoản 6 và khoản 7 Điều 67 Nghị định 224/2026/NĐ-CP).
Trên đây là thông tin về “Dịch vụ công nghệ số sẵn có và không sẵn có trên thị trường là gì?”. Vui lòng xem chi tiết Nghị định 224/2026/NĐ-CP trên LuatVietnam.vn và các tính năng liên quan như: Tình trạng hiệu lực, Lược đồ văn bản, Văn bản liên quan...
RSS