Mua cổ phiếu, góp vốn đều được xem là hoạt động đầu tư kinh doanh theo Quy định 224-QĐ/TW. Tuy nhiên, việc đảng viên mua cổ phiếu, góp vốn kinh doanh có phải xin chấp thuận không?
- 1. Đảng viên mua cổ phiếu, góp vốn kinh doanh có phải xin chấp thuận không?
- 1.1. Trường hợp phải xin chấp thuận
- 1.2. Trường hợp không phải xin chấp thuận
- 1.3. Trường hợp không được làm
- 3. Đảng viên đầu tư kinh doanh phải bảo đảm những nguyên tắc nào?
- 4. Đảng viên mua cổ phiếu, góp vốn phải làm gì khi phát sinh xung đột lợi ích?
1. Đảng viên mua cổ phiếu, góp vốn kinh doanh có phải xin chấp thuận không?
Theo Quy định 224-QĐ/TW ngày 14/10/2026, không phải mọi trường hợp đảng viên mua cổ phiếu, góp vốn kinh doanh đều phải xin chấp thuận.
Có trường hợp được thực hiện mà không phải xin chấp thuận, có trường hợp chỉ được làm sau khi được chấp thuận và cũng có trường hợp không được thực hiện.

1.1. Trường hợp phải xin chấp thuận
Việc phải xin chấp thuận chủ yếu áp dụng khi đảng viên tham gia đầu tư ở mức độ thành lập tổ chức kinh tế, có chi phối hoặc tham gia quản lý, điều hành, tùy từng nhóm đảng viên. Cụ thể:
- Đảng viên là cán bộ, công chức không thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý: Không ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích thì được đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối nhưng không quản lý, điều hành (căn cứ khoản 2 Điều 7 Quy định 224-QĐ/TW)
- Đảng viên là viên chức: không giữ chức vụ quản lý, không ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích được đầu tư kinh doanh có tham gia quản lý, điều hành, kể cả trường hợp có đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối. (căn cứ khoản 2 Điều 8 Quy định 224-QĐ/TW)
- Đảng viên đang công tác, phục vụ trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân: Không ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích thì được thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối nhưng không quản lý, điều hành (căn cứ khoản 2 Điều 9 Quy định 224-QĐ/TW)
- Đảng viên là người quản lý doanh nghiệp nhà nước, người đại diện phần vốn nhà nước:
- Được đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối nhưng không quản lý, điều hành;
- Được đầu tư kinh doanh có tham gia quản lý, điều hành, kể cả trường hợp có đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối.
Tuy nhiên, quy định này chỉ áp dụng đối với tổ chức kinh tế ngoài khu vực công và hoạt động của tổ chức đó không thuộc ngành, lĩnh vực có lợi ích liên quan trực tiếp đến doanh nghiệp nhà nước mà đảng viên quản lý hoặc đại diện phần vốn nhà nước. (căn cứ khoản 2 Điều 10 Quy định 224-QĐ/TW)
Theo khoản 5 Điều 2 Quy định 224-QĐ/TW quy định việc chấp thuận đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh do cấp có thẩm quyền quyết định theo phân cấp quản lý cán bộ.
Đây là yêu cầu trong nội bộ Đảng và không thay thế các điều kiện, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
1.2. Trường hợp không phải xin chấp thuận
Theo căn cứ nêu tại khoản 2 Điều 4 Quy định 224-QĐ/TW, đây là nhóm hoạt động “đầu tư kinh doanh nhưng không đầu tư thành lập tổ chức kinh tế và không chi phối, quản lý, điều hành”.
Đối với từng nhóm đảng viên:
- Đảng viên ngoài khu vực công được thực hiện tất cả các hoạt động đầu tư kinh doanh mà pháp luật không cấm và không phải xin chấp thuận của tổ chức đảng.
Nếu phát sinh xung đột lợi ích thì phải thực hiện việc báo cáo, kiểm soát theo quy định (căn cứ Điều 5 Quy định 224-QĐ/TW)
- Cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý được đầu tư kinh doanh nhưng không đầu tư thành lập tổ chức kinh tế và không chi phối, quản lý, điều hành (căn cứ khoản 1 Điều 6 Quy định 224-QĐ/TW)
- Cán bộ, công chức không thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý được đầu tư kinh doanh nhưng không đầu tư thành lập tổ chức kinh tế và không chi phối, quản lý, điều hành (căn cứ khoản 1 Điều 6 Quy định 224-QĐ/TW)
- Viên chức được đầu tư kinh doanh nhưng không đầu tư thành lập tổ chức kinh tế và không chi phối, quản lý, điều hành.
Ngoài ra, viên chức không ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích còn được đầu tư kinh doanh có đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối nhưng không quản lý, điều hành.
(căn cứ khoản 1 Điều 8 Quy định 224-QĐ/TW)
- Đảng viên đang công tác, phục vụ trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cũng được đầu tư nhưng không đầu tư thành lập tổ chức kinh tế và không chi phối, quản lý, điều hành (căn cứ khoản 1 Điều 9 Quy định 224-QĐ/TW)
- Người quản lý doanh nghiệp nhà nước, người đại diện phần vốn nhà nước được đầu tư kinh doanh nhưng không đầu tư thành lập tổ chức kinh tế và không chi phối, quản lý, điều hành.
Bên cạnh đó, được mua, nhận, nắm giữ cổ phần, phần vốn góp và thực hiện quyền của cổ đông, thành viên tại doanh nghiệp do mình là người quản lý hoặc đại diện phần vốn nhà nước mà không phải xin chấp thuận.
Tuy nhiên, phần vốn cá nhân phải được tách bạch với chức trách quản lý, đại diện phần vốn nhà nước và bảo đảm kiểm soát xung đột lợi ích (căn cứ khoản 1 Điều 10 Quy định 224-QĐ/TW)
1.3. Trường hợp không được làm
Bên cạnh trường hợp phải hoặc không phải xin chấp thuận, Quy định 224-QĐ/TW cũng xác định một số hoạt động đầu tư mà đảng viên thuộc từng nhóm không được thực hiện. Cụ thể:
- Cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý không được đầu tư kinh doanh có đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối nhưng không quản lý, điều hành và đầu tư kinh doanh có tham gia quản lý, điều hành, kể cả trường hợp có đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối.
Đồng thời không được duy trì khoản đầu tư kinh doanh có xung đột lợi ích chưa được kiểm soát, (căn cứ khoản 2 Điều 6 Quy định 224-QĐ/TW)
- Cán bộ, công chức không thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý không được đầu tư kinh doanh có đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối nhưng không quản lý, điều hành.
Bên cạnh đó, người đang ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích còn không được đầu tư kinh doanh có tham gia quản lý, điều hành, kể cả trường hợp có đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối (căn cứ khoản 3 Điều 7 Quy định 224-QĐ/TW)
- Viên chức ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích không được thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh có đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối nhưng không quản lý, điều hành và đầu tư kinh doanh có tham gia quản lý, điều hành, kể cả trường hợp có đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối.
Ngoài ra, viên chức giữ chức vụ quản lý không được đồng thời quản lý, điều hành tổ chức kinh tế, trừ trường hợp được cử tham gia quản lý hoặc làm đại diện phần vốn, tài sản của đơn vị kinh tế (căn cứ khoản 3 Điều 8 Quy định 224-QĐ/TW)
- Đảng viên trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đang ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích không được thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh có đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối nhưng không quản lý, điều hành và đầu tư kinh doanh có tham gia quản lý, điều hành, kể cả trường hợp có đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối.
Thêm vào đó, trong thời gian công tác, phục vụ, đảng viên cũng không được quản lý, điều hành tổ chức kinh tế, trừ trường hợp được cấp có thẩm quyền phân công, giao nhiệm vụ (căn cứ khoản 3 Điều 9 Quy định 224-QĐ/TW)
- Người quản lý doanh nghiệp nhà nước, người đại diện phần vốn nhà nước không được đầu tư kinh doanh trong ngành, lĩnh vực có lợi ích liên quan trực tiếp đến doanh nghiệp nhà nước mà mình quản lý hoặc đại diện phần vốn nhà nước, trừ trường hợp được mua, nhận, nắm giữ cổ phần, phần vốn góp và thực hiện quyền của cổ đông, thành viên tại doanh nghiệp do mình là người quản lý hoặc đại diện phần vốn nhà nước mà không phải xin chấp thuận.
Tuy nhiên, phần vốn cá nhân phải được tách bạch với chức trách quản lý, đại diện phần vốn nhà nước và bảo đảm kiểm soát xung đột lợi ích (căn cứ khoản 3 Điều 10 Quy định 224-QĐ/TW)
3. Đảng viên đầu tư kinh doanh phải bảo đảm những nguyên tắc nào?
Các nguyên tắc chung mà đảng viên phải bảo đảm khi tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh được nêu tại Điều 2 Quy định 224-QĐ/TW, cụ thể:
- Đảng viên khi tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh phải thực hiện theo Quy định này và quy định của pháp luật; tuân thủ những điều đảng viên không được làm.
Đồng thời gương mẫu thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm đối với Nhà nước, xã hội, môi trường, người lao động và người tiêu dùng.
- Quyền, giới hạn và việc kiểm soát xung đột lợi ích được xác định theo chức danh, vị trí công tác, chức trách và nhiệm vụ được giao.
Trường hợp đảng viên giữ nhiều chức danh hoặc thuộc nhiều nhóm đối tượng thì phải tuân thủ giới hạn tương ứng với từng chức danh, nhiệm vụ và nhóm đối tượng.
Riêng đối với đảng viên trong khu vực công còn yêu cầu không được đầu tư kinh doanh vào tổ chức kinh tế, lĩnh vực mà mình trực tiếp quyết định, quản lý; không được sử dụng trái quy định tài sản nhà nước, thông tin, dữ liệu và các nguồn lực công khác để phục vụ hoạt động đầu tư kinh doanh của bản thân hoặc người có liên quan.
4. Đảng viên mua cổ phiếu, góp vốn phải làm gì khi phát sinh xung đột lợi ích?
Khi phát sinh xung đột lợi ích hoặc khi cấp có thẩm quyền phát hiện và yêu cầu.
Căn cứ tại khoản 2 Điều 12 Quy định 224-QĐ/TW yêu cầu đảng viên phải kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền và không tham gia xử lý công việc có xung đột lợi ích chưa được kiểm soát, trừ trường hợp được cấp có thẩm quyền cho phép.
Trong đó, việc xác định xung đột lợi ích phải căn cứ vào mối liên hệ cụ thể giữa lợi ích kinh tế của đảng viên hoặc người có liên quan với chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn và công việc mà đảng viên thực hiện.
Lợi ích được xem xét bao gồm cả lợi ích trực tiếp, gián tiếp và lợi ích thực tế được thụ hưởng (căn cứ khoản 1 Điều 12 Quy định 224-QĐ/TW)
Trên đây là thông tin về: Đảng viên mua cổ phiếu góp vốn kinh doanh có phải xin chấp thuận không? Độc giả có thể theo dõi LuatVietnam.vn để cập nhật các quy định mới liên quan đến đảng viên và hoạt động đầu tư kinh doanh.
RSS