
1. AI được hưởng mức ưu đãi cao nhất về khoa học công nghệ, công nghệ cao
Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 dành nhiều cơ chế ưu đãi cho doanh nghiệp để thúc đẩy phát triển hệ sinh thái công nghệ số.
Điều 20 Luật quy định doanh nghiệp AI được hưởng mức ưu đãi cao nhất theo pháp luật về khoa học công nghệ, công nghệ cao, chuyển đổi số và đầu tư; đồng thời được tạo điều kiện tiếp cận hạ tầng tính toán, dữ liệu và môi trường thử nghiệm.
Nhà nước phát triển thị trường AI thông qua việc ưu tiên sử dụng sản phẩm AI trong đấu thầu, xây dựng sàn giao dịch công nghệ và bảo đảm môi trường thử nghiệm công bằng.
Điều 21 quy định cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), cho phép hệ thống AI mới được thử nghiệm trong môi trường rủi ro có kiểm soát, thậm chí được miễn hoặc giảm nghĩa vụ tuân thủ dựa trên kết quả thử nghiệm.
Điều 22 thành lập Quỹ Phát triển Trí tuệ Nhân tạo Quốc gia - một quỹ tài chính ngoài ngân sách, có cơ chế linh hoạt và chấp nhận rủi ro trong đổi mới sáng tạo.
Quỹ ưu tiên đầu tư hạ tầng AI, đào tạo nhân lực, phát triển công nghệ cốt lõi và hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
Điều 25 bổ sung chính sách hỗ trợ đặc thù cho startup và doanh nghiệp nhỏ, bao gồm hỗ trợ chi phí đánh giá sự phù hợp, công cụ tự đánh giá và quyền tiếp cận dữ liệu dùng chung.
2. Những nhóm hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động trí tuệ nhân tạo
Theo Điều 7 Luật Trí tuệ nhân tạo 2025, từ ngày 01/03/2026, có 06 nhóm hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động trí tuệ nhân tạo, bao gồm:
(1) Lợi dụng, chiếm đoạt hệ thống trí tuệ nhân tạo để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
(2) Phát triển, cung cấp, triển khai hoặc sử dụng các hệ thống trí tuệ nhân tạo nhằm mục đích sau đây:
- Thực hiện các hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của luật;
- Sử dụng yếu tố giả mạo hoặc mô phỏng người, sự kiện thật để lừa dối hoặc thao túng nhận thức, hành vi của con người một cách có chủ đích và có hệ thống, gây tổn hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của con người;
- Lợi dụng điểm yếu của nhóm người dễ bị tổn thương, bao gồm trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số hoặc người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi để gây tổn hại cho chính họ hoặc người khác;
- Tạo ra hoặc phổ biến nội dung giả mạo có khả năng gây nguy hại nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
(3) Thu thập, xử lý hoặc sử dụng dữ liệu để phát triển, huấn luyện, kiểm thử hoặc vận hành hệ thống trí tuệ nhân tạo trái với quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, sở hữu trí tuệ và an ninh mạng.
(4) Cản trở, vô hiệu hóa hoặc làm sai lệch cơ chế giám sát, can thiệp và kiểm soát của con người đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo theo quy định của Luật Trí tuệ nhân tạo 2025.
(5) Che giấu thông tin bắt buộc phải công khai, minh bạch hoặc giải trình; tẩy xóa, làm sai lệch các thông tin, nhãn, cảnh báo bắt buộc trong hoạt động trí tuệ nhân tạo.
(6) Lợi dụng hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm, đánh giá hoặc kiểm định hệ thống trí tuệ nhân tạo để thực hiện hành vi trái quy định của luật.
3. 03 mức độ rủi ro của hệ thống trí tuệ nhân tạo
Căn cứ khoản 1 Điều 9 Luật Trí tuệ nhân tạo 2025, từ ngày 01/03/2026, hệ thống trí tuệ nhân tạo được phân loại theo 03 mức độ rủi ro sau đây:
- Hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao là hệ thống có thể gây thiệt hại đáng kể đến tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, an ninh quốc gia;
- Hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro trung bình là hệ thống có khả năng gây nhầm lẫn, tác động hoặc thao túng người sử dụng do không nhận biết được chủ thể tương tác là hệ thống trí tuệ nhân tạo hoặc nội dung do hệ thống tạo ra;
- Hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro thấp là hệ thống không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 9 Luật Trí tuệ nhân tạo 2025.
Việc phân loại rủi ro của hệ thống trí tuệ nhân tạo được xác định trên cơ sở các tiêu chí về mức độ tác động đến quyền con người, an toàn, an ninh; lĩnh vực sử dụng của hệ thống, đặc biệt là lĩnh vực thiết yếu hoặc liên quan trực tiếp đến lợi ích công cộng; phạm vi người sử dụng và quy mô ảnh hưởng của hệ thống.
4. Quy định về quản lý dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng vốn ngân sách nhà nước
Dự án đầu tư hệ thống thông tin, phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu quy định tại khoản 5 Điều 3 của Nghị định này (sau đây gọi là dự án đầu tư hệ thống);
Dự án mua dự phòng, thay thế các thiết bị phần cứng, phần mềm thương mại thuộc hệ thống thông tin hiện có; mua phần mềm thương mại; mua thiết bị phần cứng riêng lẻ; mua thiết bị phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu không thuộc hoạt động quy định tại khoản 5 Điều 3 của Nghị định này (sau đây gọi là dự án mua sắm);
Dự án thuê dịch vụ công nghệ thông tin.
Trên đây là nội dung bài viết "Chính sách mới về khoa học công nghệ có hiệu lực tháng 3/2026"
RSS
