
1. Phân cấp thẩm quyền cấp phép đối với công nghệ hạn chế chuyển giao
Theo quy định tại Khoản 11 Điều 1 của Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi 2025, thẩm quyền cấp phép đối với công nghệ thuộc danh mục hạn chế chuyển giao được chuyển giao về cho địa phương. Cụ thể, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ trực tiếp thực hiện việc xem xét và cấp phép.
2. Hoàn thiện và mở rộng chính sách ưu tiên trong chuyển giao công nghệ
Khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi năm 2025 đã bổ sung và làm rõ các cơ chế ưu tiên, khuyến khích hoạt động chuyển giao công nghệ, bao gồm:
- Tập trung ưu tiên các lĩnh vực công nghệ chiến lược, công nghệ xanh, công nghệ phục vụ các dự án quan trọng quốc gia; đồng thời chú trọng thúc đẩy chuyển giao tại khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo.
- Tăng cường lan tỏa công nghệ chiến lược, đặc biệt từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang doanh nghiệp trong nước.
- Khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài chuyển giao công nghệ vào Việt Nam nhằm nâng cao năng lực tiếp nhận, làm chủ và đổi mới công nghệ. Hoạt động này được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận giữa các bên, đồng thời đảm bảo tuân thủ quy định về sở hữu trí tuệ và các cam kết quốc tế.
- Áp dụng các chính sách ưu đãi về đầu tư, thuế, đất đai, tín dụng và các biện pháp hỗ trợ khác đối với các dự án có nội dung chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và phát triển năng lực nghiên cứu, sản xuất, ứng dụng công nghệ tại Việt Nam.
3. Làm rõ và bổ sung quy định về quyền trong chuyển giao công nghệ
Khoản 5 Điều 1 của Luật sửa đổi năm 2025 đã có những điều chỉnh quan trọng:
- Xác định rõ việc chấp thuận của chủ sở hữu công nghệ phải được thể hiện bằng văn bản hoặc hình thức hợp pháp tương đương.
- Bổ sung quyền cho bên nhận chuyển giao, cho phép cải tiến, phát triển và khai thác công nghệ theo quy định của pháp luật.
- Quy định cụ thể hơn về quyền sở hữu và quyền sử dụng công nghệ, bao gồm trường hợp đồng sở hữu; đồng thời phân định rõ giữa quyền đối với công nghệ và quyền đối với sản phẩm, thiết bị có tích hợp công nghệ đó.
4. Quy định chi tiết về việc góp vốn bằng công nghệ trong hoạt động đầu tư
Khoản 6 Điều 1 của Luật sửa đổi đã bổ sung và làm rõ các quy định liên quan đến việc sử dụng công nghệ để góp vốn vào dự án đầu tư, cụ thể:
-
Chỉ những tổ chức, cá nhân có quyền sở hữu hợp pháp đối với công nghệ mới được phép sử dụng công nghệ đó để góp vốn.
-
Mở rộng phạm vi áp dụng, cho phép chủ sở hữu công nghệ tham gia góp vốn không chỉ vào doanh nghiệp mà còn trực tiếp vào các dự án đầu tư.
-
Đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước, việc góp vốn bằng công nghệ phải đáp ứng yêu cầu xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp, đồng thời công nghệ được định giá theo quy định.
- Chủ sở hữu công nghệ vẫn được đảm bảo quyền khai thác và thương mại hóa công nghệ theo các quy định pháp luật có liên quan.
Trên đây là nội dung bài viết ''Chính sách mới về khoa học công nghệ hiệu lực tháng 4/2026"
RSS