Đối với vụ án vi phạm pháp luật về đất đai thuộc cơ chế, chính sách đặc thù, việc tạm đình chỉ vụ án hoặc hoãn phiên tòa được xem xét trên cơ sở những căn cứ và tài liệu cụ thể. Vậy cần những tài liệu gì để Tòa án xem xét tạm đình chỉ vụ án hoặc hoãn phiên tòa vi phạm đất đai theo cơ chế đặc thù?
1. Cần những tài liệu gì để Tòa án xem xét tạm đình chỉ vụ án hoặc hoãn phiên tòa vi phạm đất đai theo cơ chế đặc thù?
Khi xem xét tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo hoặc hoãn phiên tòa, Tòa án căn cứ vào 04 nhóm văn bản, tài liệu.
Cụ thể, khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP quy định các văn bản, tài liệu gồm:
Thứ nhất, văn bản, tài liệu hướng dẫn tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 4 của Nghị quyết này, cụ thể gồm:
+ Văn bản, tài liệu của Chính phủ, các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương, cấp tỉnh, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác xác định các vụ án, vụ việc vi phạm pháp luật về đất đai nhưng không tham nhũng xảy ra trước ngày 01/8/2024;
+ Văn bản, tài liệu của cơ quan có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật về đất đai của bị can, bị cáo có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước hoặc không gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước; trường hợp có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước thì phải xác định cụ thể hậu quả thiệt hại.
Khi có sự mâu thuẫn hoặc chưa rõ trong việc xác định hậu quả thiệt hại giữa các cơ quan có thẩm quyền với cơ quan tiến hành tố tụng, Tòa án căn cứ kết luận của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc nếu thấy cần thiết, yêu cầu định giá tài sản theo quy định của pháp luật;
+ Văn bản, tài liệu của người đứng đầu Chính phủ, các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương, cấp tỉnh xác định dự án, công trình vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, vì mục đích bảo đảm quốc phòng, an ninh, mang lại hiệu quả kinh tế
- xã hội cho địa phương, đất nước, mức độ khắc phục hậu quả thiệt hại;
Thứ hai, văn bản, tài liệu của người đứng đầu Chính phủ, các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương, cấp tỉnh xác định dự án, công trình vẫn có khả năng, phương án, điều kiện để khắc phục;
Thứ ba, bản giải trình của bị can, bị cáo, tổ chức, cá nhân liên quan về việc chưa khắc phục được hậu quả thiệt hại do nguyên nhân khách quan, trong đó nêu rõ nguyên nhân khách quan dẫn đến chưa khắc phục được hậu quả thiệt hại và họ vẫn có khả năng, phương án khắc phục hậu quả thiệt hại.
- Kèm theo bản giải trình là các tài liệu, chứng cứ chứng minh có nguyên nhân khách quan.
- Nguyên nhân khách quan là những yếu tố hoặc sự kiện xảy ra ngoài ý chí của bị can, bị cáo, tổ chức, cá nhân liên quan làm cho họ không thể hoặc chưa thể khắc phục hậu quả thiệt hại;
Thứ tư, bản cam kết khắc phục hậu quả thiệt hại của bị can, bị cáo, tổ chức, cá nhân liên quan về việc sẽ thực hiện biện pháp để khắc phục hậu quả thiệt hại.
- Kèm theo bản cam kết là các tài liệu, chứng cứ chứng minh khả năng khắc phục hậu quả thiệt hại, phương án, lộ trình, biện pháp và thời hạn hoàn thành việc khắc phục hậu quả thiệt hại.

Cần những tài liệu gì để Tòa án xem xét tạm đình chỉ vụ án hoặc hoãn phiên tòa vi phạm đất đai theo cơ chế đặc thù? (Ảnh minh họa)
2. Khi nào Tòa án tạm đình chỉ vụ án hoặc hoãn phiên tòa xét xử vi phạm pháp luật về đất đai theo cơ chế đặc thù?
Căn cứ khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP có quy định như sau:
1. Trường hợp bị can, bị cáo có đủ căn cứ quy định tại Điều 6 của Nghị quyết số 29/2026/QH16, tùy thuộc vào giai đoạn xét xử, Tòa án xem xét, quyết định như sau:
a) Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can;
b) Tại phiên tòa, căn cứ khả năng khắc phục hậu quả thiệt hại và đề nghị của bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét ra một trong các quyết định sau đây:
b1) Hoãn phiên tòa trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa nếu có căn cứ xác định trong thời hạn này mà bị cáo, tổ chức, cá nhân liên quan khắc phục được hậu quả thiệt hại;
b2) Tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị cáo nếu xét thấy bị cáo, tổ chức, cá nhân liên quan không có khả năng khắc phục được hậu quả thiệt hại trong thời hạn hướng dẫn tại b1 điểm b khoản 1 Điều này.”
Theo đó, Điều 6 Nghị quyết 29/2026/QH16 quy định các căn cứ tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự để tổ chức, cá nhân khắc phục hậu quả nếu bảo đảm đủ các điều kiện sau:
- Có hành vi vi phạm nhưng vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, vì mục đích bảo đảm quốc phòng, an ninh;
- Có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước nhưng không tham nhũng;
- Các dự án, công trình đang thực hiện, chưa hoàn thành, chưa khắc phục được hậu quả do nguyên nhân khách quan nhưng vẫn có khả năng, phương án, điều kiện để khắc phục, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước, có cam kết của tổ chức, cá nhân liên quan khắc phục hậu quả và tích cực khắc phục theo tiến độ, phương án đã cam kết.
Khi có các căn cứ nêu trên, tùy thuộc vào giai đoạn xét xử, Tòa án xem xét, quyết định như sau:
- Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can;
- Tại phiên tòa, căn cứ khả năng khắc phục hậu quả thiệt hại và đề nghị của bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét ra một trong các quyết định sau đây:
+ Hoãn phiên tòa trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa nếu có căn cứ xác định trong thời hạn này mà bị cáo, tổ chức, cá nhân liên quan khắc phục được hậu quả thiệt hại;
+ Tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị cáo nếu xét thấy bị cáo, tổ chức, cá nhân liên quan không có khả năng khắc phục được hậu quả thiệt hại trong thời hạn hướng dẫn nêu trên.
Ngoài ra, khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐTP quy định nguyên tắc thực hiện đối với các vụ việc có hành vi vi phạm nhằm mục đích phát triển kinh tế - xã hội hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh; gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước nhưng không có hành vi tham nhũng (quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 29/2026/QH16).
Đối với các vụ việc này nếu dự án, công trình đã hoàn thành thì Tòa án không áp dụng tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo hoặc hoãn phiên tòa theo cơ chế này mà tiếp tục giải quyết, xét xử, thi hành án theo pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án.
3. Sau khi tạm đình chỉ vụ án hoặc hoãn phiên tòa, việc xử lý tiếp theo thế nào?
Việc giải quyết vụ án sau khi được tạm đình chỉ hoặc hoãn phiên tòa phụ thuộc vào kết quả khắc phục hậu quả thiệt hại trong thời hạn được áp dụng.
3.1. Trong thời hạn tạm đình chỉ vụ án
Căn cứ khoản 3 Điều 5 Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP, trong thời hạn tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo mà bị can, bị cáo, tổ chức, cá nhân liên quan khắc phục được toàn bộ hậu quả thiệt hại thì Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo.
Trường hợp hết thời hạn tạm đình chỉ mà họ không khắc phục được toàn bộ hậu quả thiệt hại thì Tòa án ra quyết định phục hồi vụ án và giải quyết, xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
3.2. Trong thời hạn hoãn phiên tòa
Căn cứ khoản 4 Điều 5 Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP, trong thời hạn hoãn phiên tòa mà bị cáo, tổ chức, cá nhân liên quan khắc phục được toàn bộ hậu quả thiệt hại thì Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án đối với bị cáo.
Nếu hết thời hạn hoãn phiên tòa mà họ chưa khắc phục được toàn bộ hậu quả thiệt hại, Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị cáo nếu có căn cứ xác định họ có khả năng khắc phục được hậu quả thiệt hại.
Trên đây là thông tin về “Cần những tài liệu gì để Tòa án xem xét tạm đình chỉ vụ án hoặc hoãn phiên tòa vi phạm đất đai theo cơ chế đặc thù?” theo Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP.
RSS