Khi hậu quả thiệt hại chưa được khắc phục toàn bộ, tỷ lệ đã khắc phục là căn cứ để Tòa án xem xét giảm mức hình phạt. Vậy Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn giảm mức hình phạt theo tỷ lệ khắc phục thiệt hại khi xét xử vi phạm đất đai thế nào?
- 1. Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn giảm mức hình phạt theo tỷ lệ khắc phục thiệt hại khi xét xử vi phạm đất đai thế nào?
- 2. Việc áp dụng cơ chế giảm hình phạt phải tuân theo phạm vi, nguyên tắc nào?
- 3. Tòa án xử lý thế nào trong thời gian chờ khắc phục hậu quả thiệt hại?
- 3.1. Thẩm quyền quyết định và thời hạn hoãn phiên tòa
- 3.2. Kết quả xử lý khi đã hết thời gian khắc phục
- 4. Những tài liệu nào làm căn cứ xem xét tạm đình chỉ hoặc hoãn phiên tòa để khắc phục thiệt hại?
- Thứ nhất, tài liệu xác định vụ việc, hậu quả thiệt hại và mục đích, hiệu quả của dự án.
- Thứ hai, tài liệu xác định khả năng khắc phục của dự án, công trình.
- Thứ ba, bản giải trình và chứng cứ về nguyên nhân khách quan.
- Thứ tư, bản cam kết và chứng cứ về khả năng thực hiện.
1. Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn giảm mức hình phạt theo tỷ lệ khắc phục thiệt hại khi xét xử vi phạm đất đai thế nào?
Theo khoản 5 Điều 5 Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP, khi bị cáo, tổ chức, cá nhân liên quan không khắc phục được toàn bộ hậu quả thiệt hại, Tòa án xem xét giảm mức hình phạt theo 04 khoảng tỷ lệ khắc phục, với mức giảm tối đa lần lượt là một phần tư, một phần hai, hai phần ba và bốn phần năm mức hình phạt. Việc xem xét căn cứ vào hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước và mức độ khắc phục tại thời điểm xét xử.
Cụ thể, các điểm a, b, c và d khoản này quy định:
- Đã khắc phục đến 1/4 hậu quả thiệt hại thì có thể được giảm tối đa đến 1/4 mức hình phạt;
- Đã khắc phục từ trên 1/4 đến 1/2 hậu quả thiệt hại thì có thể được giảm tối đa đến một phần hai mức hình phạt;
- Đã khắc phục từ trên 1/2i đến 3/4 hậu quả thiệt hại thì có thể được giảm tối đa đến 2/3 mức hình phạt;
- Đã khắc phục từ trên 3/4 đến dưới toàn bộ hậu quả thiệt hại thì có thể được giảm tối đa đến 4/5 mức hình phạt.
Theo cách quy định tại khoản 5 Điều 5, đây là các mức “có thể được giảm tối đa”. Tòa án xem xét mức giảm trên cơ sở các căn cứ nêu trên, không chỉ dựa riêng vào tỷ lệ khắc phục hậu quả thiệt hại.

2. Việc áp dụng cơ chế giảm hình phạt phải tuân theo phạm vi, nguyên tắc nào?
Điều 1 Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP xác định phạm vi hướng dẫn là một số cơ chế, chính sách đặc thù thuộc thẩm quyền của Tòa án khi giải quyết, xét xử vi phạm pháp luật về đất đai theo Nghị quyết 29/2026/QH16.
Đây là Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài.
Về nguyên tắc áp dụng, khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP quy định: Vụ việc đã được áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù theo Nghị quyết 29/2026/QH16 mà người vi phạm vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì Tòa án xem xét áp dụng hai Nghị quyết để giải quyết, xét xử, nếu có đủ căn cứ.
Đối với vụ án có nhiều hành vi hoặc nhiều người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, khoản 3 và khoản 4 Điều 2 giới hạn việc áp dụng như sau:
- Một người thực hiện nhiều hành vi và bị xét xử trong cùng một vụ án: Chỉ áp dụng hai Nghị quyết đối với hành vi vi phạm pháp luật về đất đai nếu có đủ căn cứ; hành vi vi phạm khác được xử lý theo quy định của pháp luật.
- Vụ án có nhiều bị can, bị cáo: Chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai nếu có đủ căn cứ; các bị can, bị cáo khác được xử lý theo quy định của pháp luật.
Riêng khoản 2 Điều 2 quy định trường hợp vụ việc thuộc khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 29/2026/QH16 mà dự án, công trình đã hoàn thành nhưng chưa khắc phục hậu quả thiệt hại. Khi đó, Tòa án không áp dụng việc tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, hoãn phiên tòa, hoãn chấp hành hình phạt hoặc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù theo Điều 8 và Điều 9 Nghị quyết 29/2026/QH16; việc giải quyết, xét xử, thi hành án được tiếp tục theo pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án.
Về thời điểm áp dụng, khoản 1 Điều 8 Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP quy định Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 15/10/2026.
3. Tòa án xử lý thế nào trong thời gian chờ khắc phục hậu quả thiệt hại?
Trước khi xem xét mức giảm khi xét xử, Điều 5 Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn việc tạm đình chỉ vụ án hoặc hoãn phiên tòa để khắc phục hậu quả thiệt hại.
3.1. Thẩm quyền quyết định và thời hạn hoãn phiên tòa
Theo khoản 1 Điều 5, trường hợp bị can, bị cáo có đủ căn cứ quy định tại Điều 6 Nghị quyết 29/2026/QH16 về trường hợp được xem xét tạm đình chỉ, hoãn để khắc phục hậu quả thiệt hại, việc quyết định phụ thuộc vào giai đoạn xét xử:
- Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can.
- Tại phiên tòa: Hội đồng xét xử căn cứ khả năng khắc phục hậu quả thiệt hại và đề nghị của bị cáo để xem xét hoãn phiên tòa hoặc tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị cáo.
Cụ thể, điểm b khoản này cho phép hoãn phiên tòa không quá 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn, nếu có căn cứ xác định trong thời hạn đó bị cáo, tổ chức, cá nhân liên quan khắc phục được hậu quả thiệt hại.
Nếu xét thấy các chủ thể này không có khả năng khắc phục được hậu quả thiệt hại trong thời hạn trên, Hội đồng xét xử xem xét tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị cáo.
3.2. Kết quả xử lý khi đã hết thời gian khắc phục
Căn cứ khoản 3 Điều 5 quy định: Trong thời hạn tạm đình chỉ, nếu bị can, bị cáo, tổ chức, cá nhân liên quan khắc phục được toàn bộ hậu quả thiệt hại thì Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo.
Nếu hết thời hạn tạm đình chỉ mà chưa khắc phục được toàn bộ, Tòa án ra quyết định phục hồi vụ án và giải quyết, xét xử theo Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với thời gian hoãn phiên tòa, khoản 4 Điều 5 quy định hai hướng xử lý:
- Khắc phục được toàn bộ hậu quả thiệt hại trong thời hạn hoãn: Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án đối với bị cáo.
- Hết thời hạn hoãn mà chưa khắc phục được toàn bộ: Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị cáo nếu có căn cứ xác định họ có khả năng khắc phục được hậu quả thiệt hại.
Còn khi xét xử mà hậu quả thiệt hại chưa được khắc phục toàn bộ, khoản 5 Điều 5 là căn cứ để Tòa án xem xét giảm mức hình phạt theo các khoảng tỷ lệ đã nêu.
4. Những tài liệu nào làm căn cứ xem xét tạm đình chỉ hoặc hoãn phiên tòa để khắc phục thiệt hại?
Khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP quy định các văn bản, tài liệu Tòa án sử dụng khi xem xét tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo hoặc hoãn phiên tòa.
Thứ nhất, tài liệu xác định vụ việc, hậu quả thiệt hại và mục đích, hiệu quả của dự án.
Quy định tại điểm a khoản này dẫn đến các điểm a, b và c khoản 1 Điều 4, gồm:
- Văn bản, tài liệu của cơ quan có thẩm quyền xác định vụ án, vụ việc vi phạm pháp luật về đất đai nhưng không tham nhũng xảy ra trước ngày 01/8/2024.
- Văn bản, tài liệu xác định hành vi có hoặc không gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước; nếu có thì phải xác định cụ thể hậu quả thiệt hại.
- Văn bản, tài liệu của người đứng đầu Chính phủ, các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương, cấp tỉnh xác định mục đích phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của dự án, công trình; hiệu quả kinh tế - xã hội và mức độ khắc phục hậu quả thiệt hại.
Về xác định thiệt hại, điểm b khoản 1 Điều 4 yêu cầu Tòa án căn cứ kết luận của cơ quan tiến hành tố tụng khi có mâu thuẫn hoặc chưa rõ giữa các cơ quan có thẩm quyền với cơ quan tiến hành tố tụng; nếu thấy cần thiết thì yêu cầu định giá tài sản.
Thứ hai, tài liệu xác định khả năng khắc phục của dự án, công trình.
Theo điểm b khoản 2 Điều 5, đây là văn bản, tài liệu của người đứng đầu Chính phủ, các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương, cấp tỉnh xác định dự án, công trình vẫn có khả năng, phương án, điều kiện để khắc phục.
Thứ ba, bản giải trình và chứng cứ về nguyên nhân khách quan.
Điểm c khoản này yêu cầu bị can, bị cáo, tổ chức, cá nhân liên quan giải trình rõ nguyên nhân khách quan khiến chưa khắc phục được hậu quả thiệt hại, đồng thời nêu việc vẫn có khả năng, phương án khắc phục. Bản giải trình phải kèm tài liệu, chứng cứ chứng minh nguyên nhân khách quan.
Thứ tư, bản cam kết và chứng cứ về khả năng thực hiện.
Theo điểm d khoản này, bản cam kết phải thể hiện việc sẽ thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả thiệt hại. Tài liệu, chứng cứ kèm theo phải chứng minh khả năng khắc phục, phương án, lộ trình, biện pháp và thời hạn hoàn thành.
Trên đây là nội dung thông tin về Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn giảm mức hình phạt theo tỷ lệ khắc phục thiệt hại khi xét xử vi phạm đất đai thế nào. Bạn đọc tham khảo thêm toàn văn Nghị quyết và các thông tin pháp luật liên quan trên LuatVietnam.vn.
RSS