Tòa án nào có thẩm quyền hoãn, miễn chấp hành hình phạt hoặc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với người vi phạm đất đai theo cơ chế đặc thù?

Thẩm quyền quyết định được xác định riêng cho từng biện pháp và tình trạng chấp hành hình phạt. Vậy Tòa án nào có thẩm quyền hoãn, miễn chấp hành hình phạt hoặc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với người vi phạm đất đai theo cơ chế đặc thù?

1. Tòa án nào có thẩm quyền hoãn, miễn chấp hành hình phạt hoặc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù?

Theo khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP, Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm quyết định hoãn chấp hành hình phạt; Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Thẩm quyền miễn chấp hành hình phạt hoặc phần hình phạt còn lại thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu, khi có đủ căn cứ tương ứng.

1.1. Thẩm quyền hoãn chấp hành hình phạt và tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù

Khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP quy định:

“Người đã có bản án nhưng chưa có quyết định thi hành án, người đang chấp hành hình phạt tù mà có đủ căn cứ quy định tại Điều 6 của Nghị quyết số 29/2026/QH16 thì giải quyết như sau:
a) Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm xem xét, quyết định hoãn chấp hành hình phạt;
b) Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.”

Quy định này xác định cả tình trạng của người được xem xét và chủ thể có thẩm quyền quyết định. Đối với hoãn chấp hành hình phạt, thẩm quyền gắn với Tòa án đã xét xử sơ thẩm. Đối với tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, thẩm quyền gắn với nơi phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù.

1.2. Thẩm quyền miễn chấp hành hình phạt hoặc phần hình phạt còn lại

Căn cứ tại khoản 2 Điều 6 quy định:

“Người được hoãn chấp hành hình phạt, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù hoặc đang chấp hành hình phạt nếu có đủ căn cứ quy định tại Điều 5 của Nghị quyết số 29/2026/QH16 thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu xem xét, quyết định miễn chấp hành hình phạt hoặc miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.”

Theo quy định này, người được xem xét miễn gồm người được hoãn chấp hành hình phạt, người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù hoặc người đang chấp hành hình phạt. Việc miễn phải có đủ căn cứ được dẫn chiếu; không phải cứ được hoãn hoặc tạm đình chỉ là được miễn chấp hành hình phạt.

Tòa án nào có thẩm quyền hoãn, miễn chấp hành hình phạt hoặc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với người vi phạm đất đai
Tòa án nào có thẩm quyền hoãn, miễn chấp hành hình phạt hoặc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với người vi phạm đất đai theo cơ chế đặc thù? (Ảnh minh họa)

2. Tòa án căn cứ vào tài liệu nào để quyết định hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù?

Quy định tại khoản 3 Điều 6 Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP yêu cầu Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ tại khoản 2 Điều 5 để xem xét, quyết định hoãn chấp hành hình phạt, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.

2.1. Tài liệu xác định vụ việc, thiệt hại và khả năng khắc phục của dự án

Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5 dẫn đến các điểm a, b và c khoản 1 Điều 4, gồm các nhóm tài liệu sau:

  • Tài liệu xác định vụ án, vụ việc: Văn bản, tài liệu của Chính phủ, các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương, cấp tỉnh, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác xác định vụ án, vụ việc vi phạm pháp luật về đất đai nhưng không tham nhũng xảy ra trước ngày 01/8/2024.
  • Tài liệu xác định hậu quả thiệt hại: Văn bản, tài liệu của cơ quan có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật về đất đai có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước hay không. Nếu có thì phải xác định cụ thể hậu quả thiệt hại.
  • Tài liệu xác định mục đích, hiệu quả của dự án: Văn bản, tài liệu của người đứng đầu Chính phủ, các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương, cấp tỉnh xác định dự án, công trình vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước và mức độ khắc phục hậu quả thiệt hại.

Về xác định thiệt hại, điểm b khoản 1 Điều 4 quy định: Khi có mâu thuẫn hoặc chưa rõ giữa các cơ quan có thẩm quyền với cơ quan tiến hành tố tụng, Tòa án căn cứ kết luận của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc, nếu thấy cần thiết, yêu cầu định giá tài sản theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, điểm b khoản 2 Điều 5 yêu cầu có văn bản, tài liệu của người đứng đầu Chính phủ, các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương, cấp tỉnh xác định dự án, công trình vẫn có khả năng, phương án, điều kiện để khắc phục.

2.2. Bản giải trình, bản cam kết và chứng cứ kèm theo

Đối với lý do chưa khắc phục được thiệt hại, điểm c khoản 2 Điều 5 yêu cầu bản giải trình của bị can, bị cáo, tổ chức, cá nhân liên quan phải nêu rõ:

  • Nguyên nhân khách quan dẫn đến chưa khắc phục được hậu quả thiệt hại;
  • Việc vẫn có khả năng, phương án khắc phục hậu quả thiệt hại.

Kèm theo bản giải trình phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh nguyên nhân khách quan. Quy định này xác định nguyên nhân khách quan là những yếu tố hoặc sự kiện xảy ra ngoài ý chí của các chủ thể liên quan, làm cho họ không thể hoặc chưa thể khắc phục hậu quả thiệt hại.

Về cam kết thực hiện, điểm d khoản này yêu cầu có bản cam kết khắc phục hậu quả thiệt hại, thể hiện việc sẽ thực hiện biện pháp khắc phục. Tài liệu, chứng cứ kèm theo phải chứng minh:

  • Khả năng khắc phục hậu quả thiệt hại;
  • Phương án, lộ trình, biện pháp khắc phục;
  • Thời hạn hoàn thành việc khắc phục hậu quả thiệt hại.

3. Trường hợp nào không được hoãn hoặc tạm đình chỉ theo cơ chế đặc thù?

Theo khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP quy định trường hợp vụ việc thuộc khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 29/2026/QH16 mà dự án, công trình đã hoàn thành nhưng chưa khắc phục hậu quả thiệt hại.

Trong trường hợp này, Tòa án không áp dụng các biện pháp tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, hoãn phiên tòa, hoãn chấp hành hình phạt hoặc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù theo Điều 8 và Điều 9 Nghị quyết 29/2026/QH16.

Tòa án tiếp tục giải quyết, xét xử, thi hành án theo pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án.

Ngoài ngoại lệ trên, khoản 3 và khoản 4 Điều 2 còn giới hạn phạm vi áp dụng khi vụ án có nhiều hành vi hoặc nhiều người:

  • Một người thực hiện nhiều hành vi và bị xét xử trong cùng một vụ án thì chỉ áp dụng cơ chế đặc thù đối với hành vi vi phạm pháp luật về đất đai, nếu có đủ căn cứ. Hành vi vi phạm khác được xử lý theo quy định của pháp luật.
  • Một vụ án có nhiều bị can, bị cáo thì chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai, nếu có đủ căn cứ. Các bị can, bị cáo khác được xử lý theo quy định của pháp luật.

Về trình tự, thủ tục, quy định tại khoản 5 Điều 6 nêu rõ việc xem xét hoãn chấp hành hình phạt, miễn chấp hành hình phạt và tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù thực hiện theo pháp luật về tố tụng hình sự, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự.

Về trách nhiệm triển khai, khoản 2 Điều 8 yêu cầu các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp xem xét, quyết định áp dụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn khi có đủ căn cứ; khẩn trương rà soát các bản án có vi phạm pháp luật về đất đai nhưng không tham nhũng xảy ra trước ngày 01/8/2024.

Trên đây là nội dung thông tin về Tòa án nào có thẩm quyền hoãn, miễn chấp hành hình phạt hoặc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với người vi phạm đất đai theo cơ chế đặc thù. Bạn đọc tham khảo thêm toàn văn Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP và các thông tin pháp luật liên quan trên LuatVietnam.vn.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục