7. Việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế trên môi trường điện tử được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 118/2021/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 68/2025/NĐ-CP và Nghị định số 190/2025/NĐ-CP.
8 điểm mới của Nghị định 90/2026/NĐ-CP về lĩnh vực y tế (Ảnh minh họa)
2. Bổ sung thêm mức phạt tiền đối với một số vi phạm quy định về đăng ký thuốc, nguyên liệu làm thuốc
Khoản 2 và khoản 3 Điều 56 Nghị định 90/2026/NĐ-CP đã bổ sung thêm mức phạt về đăng ký thuốc, nguyên liệu làm thuốc (Nghị định 117/2020/NĐ-CP chưa quy định):
Mức phạt
Hành vi vi phạm
30 - 50 triệu đồng
- Không thực hiện kế hoạch quản lý nguy cơ đã được phê duyệt trong hồ sơ đề nghị cấp giấy đăng ký lưu hành đối với thuốc hóa dược mới, sinh phẩm (trừ sinh phẩm probiotics);
- Không thực hiện thay đổi, bổ sung nội dung tương ứng với thay đổi, bổ sung của thuốc đặt gia công đối với thuốc gia công đáp ứng quy định của pháp luật, khi thuốc đặt gia công đang được sản xuất, lưu hành ở nước sở tại có các thay đổi, bổ sung liên quan đến công thức bào chế thuốc; quy trình sản xuất; tiêu chuẩn chất lượng nguyên liệu; tiêu chuẩn chất lượng thuốc thành phẩm; tên thương mại đã được cơ quan quản lý có thẩm quyền nước sở tại phê duyệt;
- Không báo cáo theo đúng thời gian quy định về việc cơ sở sản xuất nước ngoài bị thu hồi giấy phép sản xuất hoặc không đáp ứng thực hành tốt sản xuất thuốc theo quy định của pháp luật;
- Không báo cáo theo đúng thời gian quy định về việc thuốc, nguyên liệu làm thuốc bị thu hồi hoặc bị rút giấy đăng ký lưu hành theo quy định của pháp luật.
50 - 70 triệu đồng
- Không thông báo cho cơ quan có thẩm quyền trong trường hợp có quyết định thu hồi giấy đăng ký lưu hành thuốc đặt gia công tại bất kỳ nước nào trên thế giới (trong thời hạn giấy đăng ký lưu hành của thuốc gia công còn hiệu lực);
- Không thông báo bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền trong trường hợp có quyết định thu hồi giấy đăng ký lưu hành thuốc trước chuyển giao công nghệ tại bất kỳ nước nào trên thế giới (trong thời hạn giấy đăng ký lưu hành của thuốc chuyển giao công nghệ còn hiệu lực);
- Tài liệu trong hồ sơ đề nghị đánh giá đáp ứng Thực hành tốt sản xuất của cơ sở sản xuất thuốc, nguyên liệu làm thuốc tại nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền kết luận là tài liệu giả mạo mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
3. Điều chỉnh quy định xử phạt đối với một số vi phạm về sản xuất thuốc, nguyên liệu làm thuốc
So với Điều 57 Nghị định 117/2020/NĐ-CP, nội dung xử phạt đã có sự điều chỉnh theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng. Cụ thể, mức phạt tiền từ 20 - 30 triệu đồng và từ 40 - 60 triệu đồng không còn chỉ áp dụng đối với hành vi sản xuất thuốc vi phạm như trước, mà được bổ sung thêm hành vi “đưa ra lưu hành” thuốc vi phạm ở các mức độ tương ứng.
Bên cạnh đó, Điều 57 Nghị định 90/2026/NĐ-CP cũng bổ sung nhiều hành vi vi phạm mới kèm theo mức xử phạt cụ thể.
Hành vi vi phạm
Mức phạt
Không lưu trữ mẫu thuốc, nguyên liệu làm thuốc trong kiểm nghiệm theo quy định của pháp luật
5 - 10 triệu đồng
Không thực hiện đúng quy định về điều kiện bảo quản thuốc, nguyên liệu làm thuốc trong quá trình bảo quản tại cơ sở sản xuất
20 - 30 triệu đồng
Sản xuất và đưa ra lưu hành thuốc sử dụng nguyên liệu làm thuốc chưa được kiểm nghiệm theo quy định của pháp luật
30 - 40 triệu đồng
4. Điều chỉnh quy định xử phạt đối với một số vi phạm về bán buôn thuốc, nguyên liệu làm thuốc
Quy định trước đây tại điểm d khoản 1 Điều 58 Nghị định 117/2020/NĐ-CP, nội dung xử phạt đã có sự thay đổi theo hướng thu hẹp phạm vi áp dụng đối với một số hành vi. Cụ thể, nếu trước đây mọi trường hợp mua, bán thuốc vi phạm chất lượng ở mức độ 3 đều bị xử phạt từ 5 - 10 triệu đồng, thì theo quy định mới tại Điều 58 Nghị định 90/2026/NĐ-CP, mức phạt này chỉ áp dụng khi hành vi mua, bán diễn ra sau khi đã có thông báo thu hồi từ cơ quan có thẩm quyền.
Bên cạnh đó, Điều 58 Nghị định 90/2026/NĐ-CP cũng bổ sung thêm một số hành vi vi phạm với mức xử phạt cụ thể nhằm tăng cường quản lý hoạt động bán buôn thuốc, nguyên liệu làm thuốc.
Hành vi vi phạm
Mức phạt
Bảo quản thuốc, nguyên liệu làm thuốc không đúng với địa điểm kinh doanh ghi trên giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược, trừ trường hợp sử dụng dịch vụ bảo quản thuốc, nguyên liệu làm thuốc;
30 - 40 triệu đồng
Mua, bán thuốc, nguyên liệu làm thuốc không đúng phạm vi đã được cấp trong Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược
40 - 60 triệu đồng
5. Điều chỉnh quy định xử phạt vi phạm quy định về xuất khẩu, nhập khẩu thuốc, nguyên liệu làm thuốc
So với điểm a khoản 17 Điều 2 Nghị định 124/2021/NĐ-CP, nội dung xử phạt đã được làm rõ hơn về phạm vi áp dụng. Cụ thể, nếu trước đây hành vi không tiến hành lưu mẫu thuốc thành phẩm ít nhất 12 tháng sau khi hết hạn dùng của thuốc bị xử phạt từ 5 - 10 triệu đồng đối với mọi trường hợp, thì khoản 1 Điều 60 Nghị định 90/2026/NĐ-CP xác định rõ việc xử phạt này chỉ áp dụng đối với thuốc nhập khẩu thuộc diện phải lưu mẫu.
Điều 60 Nghị định 90/2026/NĐ-CP cũng bổ sung thêm nhiều hành vi vi phạm cùng mức xử phạt cụ thể nhằm tăng cường kiểm soát hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu thuốc và nguyên liệu làm thuốc.
Hành vi vi phạm
Mức phạt
không thực hiện báo cáo thu hồi thuốc tự nguyện thuốc, nguyên liệu làm thuốc theo quy định của pháp luật
5 - 10 triệu đồng
xuất khẩu thuốc, nguyên liệu làm thuốc không phù hợp với thông tin ghi trên giấy phép xuất khẩu hoặc văn bản cho phép xuất khẩu trừ trường hợp số lượng xuất khẩu thực tế ít hơn số lượng cấp phép xuất khẩu
10 - 20 triệu đồng
- Nhập khẩu thuốc, nguyên liệu làm thuốc không có giấy phép nhập khẩu, trừ trường hợp thuốc, nguyên liệu làm thuốc không phải cấp phép nhập khẩu trước khi lưu hành theo quy định của pháp luật hoặc nhập khẩu thuốc, nguyên liệu làm thuốc có một trong các thông tin về hoạt chất, nồng độ/hàm lượng, dạng bào chế, cơ sở sản xuất không phù hợp với giấy phép nhập khẩu
- Tiếp tục cung cấp hoặc nhập khẩu thuốc vào Việt Nam sau khi cơ sở sản xuất nước ngoài bị thu hồi giấy phép sản xuất hoặc không đáp ứng thực hành tốt sản xuất thuốc.
70 - 80 triệu đồng
6. Điều chỉnh về mức phạt vi phạm về phân loại thiết bị y tế
So với điểm a khoản 22 Điều 2 Nghị định 124/2021/NĐ-CP, mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm về phân loại thiết bị y tế đã được điều chỉnh theo hướng tăng mạnh. Cụ thể:
Hành vi vi phạm
Nghị định 124/2021/NĐ-CP
Nghị định 90/2026/NĐ-CP
Chủ sở hữu số lưu hành thiết bị y tế không thực hiện việc phân loại, công bố kết quả phân loại thiết bị y tế trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Y tế
5 - 10 triệu đồng
25 - 50 triệu đồng
Không dừng lưu hành thiết bị y tế và không thực hiện các biện pháp thu hồi các thiết bị y tế có số lưu hành (mà hồ sơ cấp số lưu hành có sử dụng bản kết quả phân loại đã bị thu hồi) đối với trường hợp bản kết quả phân loại đã bị thu hồi và đã thực hiện thủ tục thông quan hàng hóa nhưng chưa bán đến người sử dụng
15 - 2- triệu đồng
80 - 100 triệu đồng
7. Tăng gấp đôi mức phạt đối với một số vi phạm về lưu hành thiết bị y tế
Hành vi vi phạm
Nghị định 117/2020/NĐ-CP
Nghị định 90/2026/NĐ-CP
- Lưu hành thiết bị y tế trên thị trường mà không có thông tin về hướng dẫn sử dụng của thiết bị y tế bằng tiếng Việt
- Lưu hành thiết bị y tế trên thị trường mà không có thông tin về cơ sở bảo hành, điều kiện và thời gian bảo hành, trừ trường hợp thiết bị y tế sử dụng một lần theo quy định của chủ sở hữu thiết bị y tế hoặc có tài liệu chứng minh không có chế độ bảo hành
- Lưu hành thiết bị y tế trên thị trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc tiêu chuẩn mà nhà sản xuất công bố áp dụng
10 - 20 triệu đồng
20 - 40 triệu đồng
- Không thiết lập, tổ chức, quản lý việc truy xuất nguồn gốc thiết bị y tế trên thị trường theo quy định của pháp luật
- Không lưu trữ đầy đủ hồ sơ quản lý thiết bị y tế sau bán hàng theo quy định của pháp luật
20 - 30 triệu đồng
40 - 60 triệu đồng
Lưu hành thiết bị y tế trên thị trường không bảo đảm chất lượng đã đăng ký lưu hành
40 - triệu đồng
80 - 100 triệu đồng
8. Điều chỉnh quy định xử phạt vi phạm về đóng BHYT
8.1. Điều chỉnh mức phạt về chậm đóng BHYT
So với Điều 80 Nghị định 117/2020/NĐ-CP, mức phạt đối với hành vi chậm đóng bảo hiểm y tế đã có sự điều chỉnh cả về cách xác định và khung xử phạt. Nếu trước đây người sử dụng lao động chậm đóng BHYT có thể bị phạt từ 1- 40 triệu đồng tùy theo số lượng người lao động bị vi phạm, thì khoản 2 Điều 81 Nghị định 90/2026/NĐ-CP chuyển sang áp dụng đối với hành vi chưa đóng kể từ sau thời điểm đóng chậm nhất hoặc chưa đóng nhưng không thuộc trường hợp trốn đóng, với mức phạt từ 500.000 đồng - 35 triệu đồng tùy theo giá trị mức vi phạm.
Điều 81 Nghị định 90/2026/NĐ-CP cũng bổ sung thêm hành vi vi phạm liên quan đến việc lập danh sách tham gia bảo hiểm y tế.
Hành vi vi phạm
Mức phạt
Không lập danh sách hoặc lập danh sách không đầy đủ số người tham gia BHYT trong thời hạn quy định, hoặc thuộc trường hợp không bị coi là trốn đóng
Từ 1- 35 triệu đồng tùy theo số lượng người lao động bị vi phạm
8.2 Điều chỉnh mức phạt về trốn đóng BHYT
So với trước đây, mức xử phạt đối với hành vi trốn đóng bảo hiểm y tế đã được điều chỉnh theo hướng chặt chẽ và nghiêm khắc hơn. Cụ thể:
Hành vi vi phạm
Điều 80 Nghị định 117/2020/NĐ-CP
Điều 82 Nghị định 90/2026/NĐ-CP
Không đóng BHYT đối với đối tượng bắt buộc
Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300 - 500.000 đồng
Bỏ hình thức cảnh cáo, áp dụng phạt tiền từ 300- 500.000 đồng
Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền BHYT
Từ 1- 40 triệu đồng, tùy theo số lượng lao động hoặc giá trị vi phạm
Từ 1- 45 triệu đồng, áp dụng sau 60 ngày kể từ thời điểm phải đóng và đã bị đôn đốc
Bên cạnh đó, quy định mới còn bổ sung thêm nhiều hành vi vi phạm với mức xử phạt đáng chú ý
Hành vi vi phạm
Mức phạt
không thực hiện báo cáo thu hồi thuốc tự nguyện thuốc, nguyên liệu làm thuốc theo quy định của pháp luật
5 - triệu đồng
xuất khẩu thuốc, nguyên liệu làm thuốc không phù hợp với thông tin ghi trên giấy phép xuất khẩu hoặc văn bản cho phép xuất khẩu trừ trường hợp số lượng xuất khẩu thực tế ít hơn số lượng cấp phép xuất khẩu
1 - 45 triệu đồng
Trên đây là nội dung bài viết "8 điểm mới của Nghị định 90/2026/NĐ-CP về lĩnh vực y tế"
Học sinh, sinh viên thuộc đối tượng miễn, giảm học phí phải chuẩn bị và gửi hồ sơ xin miễn, giảm học phí tới cơ sở giáo dục trong vòng 45 ngày kể từ ngày khai giảng năm học. Sau đây là hướng dẫn chi tiết về thủ tục, hồ sơ miễn giảm học phí mới nhất.
Việc ứng dụng VNeID trong chi trả các khoản an sinh xã hội được kỳ vọng giúp người dân thuận tiện hơn trong quá trình tiếp nhận các khoản hỗ trợ, hưu trí và các khoản chi trả khác. Vậy người hưởng lương hưu cần chuẩn bị những gì để sử dụng phương thức nhận tiền mới này?
Hòa giải ở cơ sở là phương thức quan trọng giúp các bên giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp ngay tại cộng đồng dân cư. Vậy người tham gia thực hiện hoạt động này cần đáp ứng những yêu cầu gì?
Từ ngày 01/9/2026, chế độ thỉnh giảng trong các cơ sở giáo dục được thực hiện theo Thông tư 59/2026/TT-BGDĐT. Bài viết dưới đây là một số điểm mới đáng chú ý.
Trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng được ứng dụng rộng rãi, kéo theo yêu cầu kiểm soát rủi ro về minh bạch, an toàn và trách nhiệm. Vậy nhà phát triển, nhà cung cấp AI có phải ban hành Bộ quy tắc đạo đức AI nội bộ theo quy định mới?
Bảo hiểm nông nghiệp là chính sách nhằm hỗ trợ người sản xuất chủ động ứng phó với những rủi ro phát sinh trong quá trình sản xuất. Vậy chính sách hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp có gì thay đổi từ ngày 20/10/2026?
Thông tư số 05/2026/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia, quy định các nguyên tắc định hướng trong nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai và sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo. Vậy Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia áp dụng cho những ai?
Thông tư 05/2026/TT-BKHCN ban hành Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia, trong đó có hướng dẫn mẫu phiếu để tổ chức, cá nhân tự đánh giá mức độ tuân thủ các nguyên tắc đạo đức AI. Vậy mẫu phiếu tự đánh giá tuân thủ đạo đức AI theo Thông tư 05/2026/TT-BKHCN là mẫu nào?
Tính đến ngày 17/8/2026, có 47 văn bản về bảo hiểm xã hội còn hiệu lực. Cùng LuatVietnam cập nhật danh mục 47 văn bản về bảo hiểm xã hội mới nhất dưới đây.
Bảng so sánh Thông tư 46/2026/TT-NHNN với Thông tư 15/2023/TT-NHNN giúp người đọc nhanh chóng nhận diện những thay đổi quan trọng trong quy định về hoạt động thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.