Cá nhân mua bán vàng nhẫn của nhau, có bị xử phạt?
Theo Điều 10 Nghị định 24/2012/NĐ-CP, hoạt động mua, bán vàng miếng của tổ chức, cá nhân chỉ được thực hiện tại tổ chức tín dụng và doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng
Điều này có nghĩa, nếu giao dịch là vàng miếng và được thực hiện ngoài hệ thống được cấp phép thì sẽ vi phạm quy định.
Tuy nhiên, vàng nhẫn thông thường được xác định là vàng trang sức, mỹ nghệ. Đối với hoạt động kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ, Điều 8 Nghị định 24/2012/NĐ-CP quy định đây là hoạt động kinh doanh có điều kiện và áp dụng đối với doanh nghiệp.
Ngoài ra, Điều 19 Nghị định 24/2012/NĐ-CP liệt kê các hành vi vi phạm như: sản xuất vàng không có giấy chứng nhận đủ điều kiện, kinh doanh vàng miếng không có giấy phép, mang vàng vượt mức khi xuất nhập cảnh, sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán…
Có thể thấy, không có quy định nào xử phạt trường hợp cá nhân bán lại vàng trang sức hợp pháp của mình cho người khác. Vì vậy, nếu cá nhân chỉ đơn thuần chuyển nhượng vàng nhẫn của mình cho cá nhân khác, không mang tính chất kinh doanh thường xuyên và không phải vàng miếng, thì không bị xử phạt theo quy định hiện hành.

Hoạt động mua bán vàng nào bị xử phạt?
Mặc dù giao dịch dân sự đơn lẻ không bị xử phạt, nhưng nhiều hành vi liên quan đến kinh doanh vàng lại bị xử lý rất nghiêm theo Nghị định 340/2025/NĐ-CP. Căn cứ Điều 28 Nghị định 340/2025/NĐ-CP, các hành vi vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng được phân nhóm rõ ràng, bao gồm:
- Mua, bán vàng miếng không đúng đối tượng, không có giấy phép hoặc không đúng nội dung giấy phép;
- Sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán;
- Không thực hiện thanh toán mua, bán vàng qua tài khoản theo quy định;
- Không niêm yết công khai giá mua, giá bán vàng;
- Sản xuất, gia công vàng trang sức, mỹ nghệ khi chưa đáp ứng điều kiện hoặc chưa đăng ký ngành nghề;
- Xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu, vàng miếng không có giấy phép;
- Sản xuất vàng miếng trái phép.
Tùy theo tính chất, mức độ và hành vi vi phạm, cá nhân, tổ chức có thể bị phạt cảnh cáo, phạt tiền lên đến 400 triệu đồng, kèm theo các hình thức xử phạt bổ sung như tịch thu vàng, đình chỉ hoạt động kinh doanh, thu hồi giấy phép.
|
Hành vi vi phạm |
Mức phạt |
|---|---|
|
Mua, bán vàng miếng không đúng đối tượng; sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán |
Cảnh cáo |
|
Tái phạm các hành vi trên; không thanh toán mua bán vàng qua tài khoản |
10 - 20 triệu đồng |
|
Không niêm yết giá; vi phạm tiêu chuẩn, nhãn hàng hóa vàng |
30 - 50 triệu đồng |
|
Kinh doanh vàng miếng không đúng quy định; mang vàng xuất nhập cảnh trái quy định |
80 - 100 triệu đồng |
|
Kinh doanh vàng qua đại lý ủy nhiệm; sản xuất, gia công vàng khi chưa đủ điều kiện |
140 - 180 triệu đồng |
|
Sử dụng vàng nguyên liệu nhập khẩu sai phép; sản xuất vàng miếng trái quy định |
200 - 300 triệu đồng |
|
Kinh doanh, xuất nhập khẩu vàng không có giấy phép |
300 - 400 triệu đồng |
Lưu ý: Theo khoản 3 Điều 5 Nghị định 340/2025/NĐ-CP, mức phạt trên áp dụng đối với cá nhân; tổ chức vi phạm bị phạt gấp 02 lần mức phạt đối với cá nhân.
Căn cứ khoản 9 và khoản 10 Điều 28 Nghị định 340/2025/NĐ-CP, ngoài hình thức phạt tiền, tổ chức, cá nhân vi phạm còn có thể bị áp dụng:
- Tịch thu số vàng vi phạm;
- Đình chỉ hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng từ 06 đến 09 tháng;
- Đình chỉ hoạt động nhập khẩu vàng nguyên liệu từ 09 đến 12 tháng;
- Thu hồi giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng đối với hành vi vi phạm nghiêm trọng.
Như vậy, pháp luật xử phạt các hành vi mang tính chất kinh doanh trái phép, không đủ điều kiện, hoặc vi phạm quy định quản lý vàng, chứ không xử phạt giao dịch dân sự thông thường giữa hai cá nhân.
Từ các thông tin, quy định trên có thể thấy, cá nhân mua bán vàng nhẫn của nhau sẽ không bị xử phạt nếu chỉ là giao dịch dân sự đơn lẻ và không liên quan đến vàng miếng hoặc hoạt động kinh doanh trái phép.
Tuy nhiên, nếu mua bán vàng miếng ngoài hệ thống được cấp phép, hoặc tổ chức kinh doanh vàng thường xuyên mà không đáp ứng điều kiện pháp luật, thì có thể bị xử phạt với mức tiền rất lớn theo Nghị định 340/2025/NĐ-CP. Do vậy, người dân cần phân biệt rõ giữa giao dịch cá nhân thông thường và hoạt động kinh doanh vàng có điều kiện để tránh rủi ro pháp lý.
Trên đây là thông tin về việc cá nhân mua bán vàng nhẫn của nhau, có bị xử phạt?
RSS