Nội dung nêu tại Thông tư 6/2026/TT-BNG quy định về trình tự, thủ tục ký kết, thực hiện và quản lý việc ký kết, thực hiện văn bản hợp tác của cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài với đối tác nước ngoài.

Theo khoản 2 Điều 3 Thông tư 6 2026 TT-BNG quy định:
Điều 3. Giải thích từ ngữ
1. Cơ quan đại diện bao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự, cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức quốc tế.
2. Văn bản hợp tác quy định tại Thông tư này là văn bản có nội dung về hợp tác trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đại diện, được ký kết giữa cơ quan đại diện với đối tác nước ngoài, không làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ ràng buộc pháp lý của cơ quan đại diện và của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
…
Bên cạnh đó, tại khoản 2 Điều 4 quy định một trong những nguyên tắc ký kết và thực hiện văn bản hợp tác là:
Việc ký kết văn bản hợp tác không được làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ ràng buộc pháp lý của cơ quan đại diện và của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đồng thời, tại Điều 2 quy định Thông tư 6/2026/TT-BNG áp dụng đối với các đối tượng sau:
- Cơ quan đại diện;
- Các cơ quan, tổ chức thuộc cơ cấu tổ chức của Bộ Ngoại giao;
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Từ những quy định trên, có thể hiểu các cơ quan đại diện Việt Nam như Đại sứ quán, lãnh sự quán…, các văn bản hợp tác của các cơ quan này được ký kết với đối tác nước ngoài không làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ ràng buộc pháp lý của cơ quan đại diện Việt Nam.
Theo đó, văn bản hợp tác quốc tế của cơ quan đại diện Việt Nam được ký kết nhằm ghi nhận sự thống nhất, thiện chí hợp tác giữa cơ quan đại diện Việt Nam với cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế trong các lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đại diện.
Các văn bản này có thể bao gồm nội dung trao đổi thông tin, phối hợp tổ chức hoạt động, thúc đẩy quan hệ hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đối ngoại.
Bên cạnh đó, Thông tư 6/2026/TT-BNG cũng quy định việc ký kết văn bản hợp tác phải bảo đảm phù hợp với đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và lợi ích quốc gia, dân tộc.
RSS