Hệ số tăng thêm đối với doanh nghiệp Nhà nước có lợi nhuận cao

Đây là nội dung quy định tại Nghị định 21/2024/NĐ-CP về tiền lương, tiền thưởng trong doanh nghiệp Nhà nước.

Theo đó, Công ty có năng suất lao động không giảm và lợi nhuận kế hoạch cao hơn so với thực hiện của năm trước liền kề thì được áp dụng hệ số tăng thêm như sau:

- Nhóm 1: Ngân hàng, tài chính (không bao gồm tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán, lưu ký chứng khoán), viễn thông:

  • Dưới 500 tỷ đồng: Hệ số tăng thêm là 0,5;
  • Từ 500 đến dưới 1.500 tỷ đồng: Hệ số tăng thêm là 1,0;
  • Từ 1.500 đến dưới 2.000 tỷ đồng: Hệ số tăng thêm là 1,5;
  • Từ 2.000 đến dưới 3.000 tỷ đồng: Hệ số tăng thêm là 2,0;
  • Từ 3.000 tỷ đồng trở lên: Hệ số tăng thêm là 2,5.

- Nhóm 2: Khai thác và chế biến dầu khí, khoáng sản, điện, thương mại, dịch vụ:

  • Dưới 300 tỷ đồng: Hệ số tăng thêm là 0,5;
  • Từ 300 đến dưới 1.000 tỷ đồng: Hệ số tăng thêm là 1,0;
  • Từ 1.000 đến dưới 1.500 tỷ đồng: Hệ số tăng thêm là 1,5;
  • Từ 1.500 đến dưới 2.000 tỷ đồng: Hệ số tăng thêm là 2,0;
  • Từ 2.000 tỷ đồng trở lên: Hệ số tăng thêm là 2,5.

- Nhóm 3: Tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán, lưu ký chứng khoán và các lĩnh vực còn lại:

  • Dưới 200 tỷ đồng: Hệ số tăng thêm là 0,5;
  • Từ 200 đến dưới 700 tỷ đồng: Hệ số tăng thêm là 1,0;
  • Từ 700 đến dưới 1.000 tỷ đồng: Hệ số tăng thêm là 1,5;
  • Từ 1.000 đến dưới 1.500 tỷ đồng: Hệ số tăng thêm là 2,0;
  • Từ 1.500 tỷ đồng trở lên: Hệ số tăng thêm là 2,5.
Hệ số tăng thêm đối với doanh nghiệp Nhà nước có lợi nhuận cao
Hệ số tăng thêm đối với doanh nghiệp Nhà nước có lợi nhuận cao (Ảnh minh họa)

Công ty không có lợi nhuận thì mức tiền lương bình quân kế hoạch phải thấp hơn mức tiền lương cơ bản, nhưng không thấp hơn 50% mức tiền lương cơ bản. Trường hợp lỗ thì mức tiền lương bình quân kế hoạch bằng 50% mức tiền lương cơ bản.

Nghị định 21/2024/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 10/4/2024.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Công văn 8886 Bội Nội vụ: Phải thống kê người đủ và chưa đủ điều kiện chuyển thành công chức tại thời điểm ngày 10/8/2026

Công văn 8886 Bội Nội vụ: Phải thống kê người đủ và chưa đủ điều kiện chuyển thành công chức tại thời điểm ngày 10/8/2026

Công văn 8886 Bội Nội vụ: Phải thống kê người đủ và chưa đủ điều kiện chuyển thành công chức tại thời điểm ngày 10/8/2026

Một trong những nội dung đáng chú ý tại Công văn 8886/BNV-TCBC của Bộ Nội vụ là yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ và địa phương thống kê số viên chức, người làm việc đủ điều kiện và chưa đủ điều kiện chuyển thành công chức.

Từ 14/8/2026, phí kiểm tra kết quả tập sự hành nghề Thừa hành viên là 2,7 triệu đồng/hồ sơ

Từ 14/8/2026, phí kiểm tra kết quả tập sự hành nghề Thừa hành viên là 2,7 triệu đồng/hồ sơ

Từ 14/8/2026, phí kiểm tra kết quả tập sự hành nghề Thừa hành viên là 2,7 triệu đồng/hồ sơ

Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 116/2026/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề Thừa hành viên ban hành ngày 13/8/2026 và có hiệu lực từ ngày 14/8/2026.

Phó Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch UBND cấp xã không áp dụng chế định vị trí việc làm của công chức

Phó Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch UBND cấp xã không áp dụng chế định vị trí việc làm của công chức

Phó Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch UBND cấp xã không áp dụng chế định vị trí việc làm của công chức

Công văn 8712/BNV-CCVC ngày 10/8/2026 đã làm rõ việc xếp lương đối với Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Trưởng ban và Phó trưởng Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã.

Quyết định 1810 BTP: Chấp hành viên không được để người thân lợi dụng danh nghĩa để vụ lợi

Quyết định 1810 BTP: Chấp hành viên không được để người thân lợi dụng danh nghĩa để vụ lợi

Quyết định 1810 BTP: Chấp hành viên không được để người thân lợi dụng danh nghĩa để vụ lợi

Quy tắc ban hành kèm theo Quyết định 1810/QĐ-BTP ngày 03/8/2026 đã đặt ra yêu cầu ứng xử đối với Chấp hành viên, Thẩm tra viên và Thư ký thi hành án tại nơi cư trú, trong gia đình và nơi công cộng.

Giao dịch trên sàn dữ liệu phải được xác lập bằng hợp đồng điện tử

Giao dịch trên sàn dữ liệu phải được xác lập bằng hợp đồng điện tử

Giao dịch trên sàn dữ liệu phải được xác lập bằng hợp đồng điện tử

Từ ngày 25/9/2026, theo Nghị định 314/2026/NĐ-CP giao dịch mua bán, trao đổi sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu trên sàn dữ liệu phải được xác lập bằng hợp đồng điện tử. Hợp đồng chỉ có hiệu lực khi được cả Bên bán và Bên mua chấp thuận bằng phương thức điện tử hợp lệ.