
Theo khoản 4 Điều 3 Nghị quyết 250/2025/QH15, nhà khoa học, chuyên gia về hội nhập quốc tế là người Việt Nam hoặc người nước ngoài, kể cả cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan thuộc lực lượng vũ trang đã nghỉ hưu, có kiến thức chuyên sâu, kỹ năng liên ngành và kinh nghiệm thực tiễn liên quan đến quá trình hội nhập quốc tế; có khả năng phân tích, tham mưu, đàm phán, xây dựng và triển khai chính sách, sáng kiến, cam kết quốc tế nhằm thúc đẩy lợi ích quốc gia, nâng cao vị thế đất nước.
Cụ thể, khoản 2 Điều 9 Nghị định 258/2026/NĐ-CP quy định nhà khoa học về hội nhập quốc tế phải sử dụng thành thạo ít nhất 1 ngoại ngữ ở trình độ tối thiểu tương đương bậc 4 Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam; đồng thời có ít nhất 10 năm làm việc trong lĩnh vực đối ngoại, hội nhập quốc tế hoặc ít nhất 10 năm trực tiếp giảng dạy, nghiên cứu khoa học tại cơ sở đào tạo, nghiên cứu, chương trình, dự án thuộc lĩnh vực này.
Ngoài các điều kiện trên, nhà khoa học phải đáp ứng ít nhất 1 trong 2 điều kiện tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 9, gồm:
-
Có trình độ tiến sĩ trở lên tốt nghiệp từ các cơ sở đào tạo có uy tín quốc tế;
-
Là tác giả hoặc đồng tác giả công trình nghiên cứu khoa học đạt giải thưởng quốc tế hoặc được ứng dụng rộng rãi mang lại hiệu quả thiết thực.
Đối với chuyên gia về hội nhập quốc tế, khoản 3 Điều 9 Nghị định 258/2026/NĐ-CP cũng yêu cầu sử dụng thành thạo ít nhất 1 ngoại ngữ ở trình độ tối thiểu tương đương bậc 4 và đáp ứng ít nhất 1 điều kiện sau:
-
Đã có ít nhất 10 năm làm việc hoặc đang giữ chức vụ quản lý tại tổ chức quốc tế, tổ chức khu vực ở trong, ngoài nước, có uy tín về chuyên môn trong lĩnh vực hội nhập quốc tế;
-
Chủ trì hoặc đồng chủ trì ít nhất 01 đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước về lĩnh vực đối ngoại, hội nhập quốc tế đã được nghiệm thu đạt kết quả xuất sắc;
-
Giữ chức vụ, chức danh lãnh đạo, quản lý từ cấp Thứ trưởng hoặc tương đương trở lên đang công tác hoặc đã nghỉ hưu; đã trực tiếp chủ trì hoặc tham gia tham mưu chính sách về hội nhập quốc tế, định hình cơ chế hợp tác, đàm phán, ký kết thỏa thuận hợp tác cấp quốc gia hoặc giải quyết các vấn đề mang tính liên quốc gia, liên khu vực trong lĩnh vực phụ trách; hoặc đã từng tham gia dẫn dắt, định hướng, tham vấn chuyên môn tại các hội nghị, hội thảo khu vực, quốc tế về lĩnh vực hội nhập quốc tế, hợp tác quốc tế của cơ quan, tổ chức mà cá nhân là lãnh đạo;
-
Được Chính phủ Việt Nam đề cử và trở thành thành viên của cơ quan, tổ chức chuyên môn quốc tế;
-
Được người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công nhận và bổ nhiệm chức danh chuyên gia về hội nhập quốc tế.
Theo khoản 4 Điều 9, việc công nhận chuyên gia được thực hiện trên cơ sở thẩm định, kiến nghị của Hội đồng chức danh chuyên gia do cơ quan có thẩm quyền thành lập.
RSS