Việc tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế tại trường đại học có phải thực hiện thủ tục xin phép hay trường được tự chủ tổ chức là vấn đề cần xác định theo từng trường hợp. Nghị định 125/2026/NĐ-CP đã quy định cụ thể cơ chế tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của cơ sở giáo dục đại học.
- 1. Trường đại học tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế có phải xin phép không?
- 2. Trường hợp nào hội nghị, hội thảo quốc tế phải thực hiện theo quy định riêng?
- 3. Trường đại học được tự chủ như thế nào trong hợp tác quốc tế?
- 4. Trường đại học có được tiếp nhận tài trợ nước ngoài để tổ chức hoạt động khoa học không?
1. Trường đại học tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế có phải xin phép không?
Theo điểm b khoản 2 Điều 13 Nghị định 125/2026/NĐ-CP, đối với một số lĩnh vực được liệt kê tại Nghị định, cơ sở giáo dục đại học được tự chủ, tự chịu trách nhiệm tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế và chỉ phải thông báo cho cơ quan quản lý trực tiếp trước khi tổ chức.
Như vậy, đối với các trường hợp thuộc phạm vi này, Nghị định 125/2026/NĐ-CP không quy định trường đại học phải xin phép cơ quan quản lý trực tiếp trước khi tổ chức, mà áp dụng cơ chế tự chủ tổ chức và thông báo trước.
Các lĩnh vực được áp dụng cơ chế trên gồm:
- Toán và thống kê;
- Máy tính và công nghệ thông tin;
- Công nghệ kỹ thuật;
- Kỹ thuật;
- Khoa học tự nhiên;
- Khoa học sự sống;
- Khoa học môi trường;
- Môi trường và bảo vệ môi trường;
- Kinh tế học;
- Kinh doanh và quản lý;
- Sản xuất và chế biến;
- Kiến trúc và xây dựng;
- Nông, lâm nghiệp và thủy sản;
- Thú y;
- Sức khỏe;
- Khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên;
- Dịch vụ vận tải.
Ngoài các lĩnh vực trên, cơ chế tự chủ và thông báo trước cũng áp dụng đối với hội nghị, hội thảo quốc tế có chủ đề phục vụ giải quyết nhiệm vụ cấp bách theo yêu cầu, chỉ đạo, đặt hàng của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành.

2. Trường hợp nào hội nghị, hội thảo quốc tế phải thực hiện theo quy định riêng?
Không phải mọi hội nghị, hội thảo quốc tế của trường đại học đều áp dụng cơ chế tự chủ, thông báo nêu trên.
Theo điểm b khoản 2 Điều 13 Nghị định 125/2026/NĐ-CP, nếu hội nghị, hội thảo quốc tế thuộc một trong các trường hợp đặc biệt sau thì phải thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ và pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước:
- Có thành viên tham dự là Bộ trưởng hoặc tương đương trở lên của các nước, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế;
- Có chủ đề, nội dung liên quan đến biên giới, lãnh thổ, chủ quyền quốc gia;
- Liên quan đến quốc phòng, an ninh;
- Liên quan đến dân tộc, tôn giáo, quyền con người;
- Nội dung thuộc phạm vi bí mật nhà nước.
Do đó, nếu hội nghị rơi vào các trường hợp này thì không thể chỉ căn cứ vào cơ chế tự chủ và thông báo dành cho các lĩnh vực thông thường. Cơ sở giáo dục đại học phải xác định và thực hiện thủ tục theo quy định riêng tương ứng.
Nghị định 125/2026/NĐ-CP không quy định chi tiết ngay tại Điều 13 rằng tất cả các trường hợp đặc biệt trên đều phải “xin phép” theo cùng một thủ tục. Văn bản chỉ dẫn chiếu việc thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ và pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước. Vì vậy, nếu cần xác định chính xác hồ sơ, cơ quan phê duyệt và thời hạn giải quyết, cần đối chiếu thêm văn bản mà Điều 13 dẫn chiếu.
3. Trường đại học được tự chủ như thế nào trong hợp tác quốc tế?
Quy định về hội nghị, hội thảo quốc tế nằm trong Điều 13 Nghị định 125/2026/NĐ-CP về hợp tác quốc tế trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Theo khoản 1 Điều này, cơ sở giáo dục đại học được chủ động thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Việc thực hiện quyền tự chủ phải gắn với trách nhiệm giải trình và không được phương hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.
Ngoài việc tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế, trường đại học còn được:
- Hợp tác với tổ chức, cá nhân nước ngoài trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo;
- Thành lập hoặc tham gia phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo chung theo quy định pháp luật;
- Tiếp nhận, sử dụng tài trợ, viện trợ, đặt hàng nghiên cứu từ nước ngoài phục vụ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm;
- Tham gia các tổ chức, hiệp hội khu vực và quốc tế trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;
- Đề xuất thành lập, tham gia hoặc liên kết với tổ chức khoa học và công nghệ ngoài nước.
Quyền tự chủ này đi kèm với các yêu cầu về an ninh, an toàn, lợi ích quốc gia, nghĩa vụ báo cáo và công khai theo quy định pháp luật.
4. Trường đại học có được tiếp nhận tài trợ nước ngoài để tổ chức hoạt động khoa học không?
Theo điểm c khoản 2 Điều 13 Nghị định 125/2026/NĐ-CP, cơ sở giáo dục đại học được tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc tiếp nhận, sử dụng các nguồn tài trợ, viện trợ, đặt hàng nghiên cứu từ phía nước ngoài phục vụ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Tuy nhiên, việc tiếp nhận và sử dụng nguồn lực này phải:
- Không phương hại đến an ninh, an toàn và lợi ích quốc gia;
- Thực hiện báo cáo;
- Thực hiện công khai theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, Nghị định còn khuyến khích trường đại học huy động, hỗ trợ kinh phí để giảng viên, người học và thành viên nhóm nghiên cứu mạnh tham gia trao đổi học thuật, nghiên cứu, đào tạo, thực tập, khởi nghiệp sáng tạo ở nước ngoài; đồng thời thu hút chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài tham gia hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại trường.
Như vậy, không thể khẳng định mọi hội nghị, hội thảo quốc tế do trường đại học tổ chức đều phải xin phép. Với các trường hợp thuộc phạm vi tự chủ tại Nghị định 125/2026/NĐ-CP, trường thực hiện theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và thông báo trước cho cơ quan quản lý trực tiếp.
RSS