LuatVietnam.vn gửi đến quý độc giả điểm tin VBPL tuần từ 15/5 - 21/5/2026 với các nội dung nổi bật liên quan đến Luật Dân sự, Luật Hình sự, Luật Hành chính…
- 1. Luật Dân sự
- 1.1. Từ 01/7/2026, người dân được gửi yêu cầu thi hành án dân sự qua VNeID và Cổng dịch vụ công quốc gia
- 1.2. Từ 01/7/2026, yêu cầu tương trợ tư pháp dân sự ra nước ngoài phải tạm ứng 3 triệu đồng
- 2. Luật Hình sự
- 2.1. Từ 01/7/2026, áp dụng cơ sở dữ liệu thi hành án hình sự thống nhất toàn quốc
- 3. Luật Hành chính
- 3.1. 7 trường hợp được xác định là vụ việc khiếu nại phức tạp từ 01/7/2026
- 4. Luật Lao động
- 4.1. Tăng lương cơ sở từ 01/7/2026
- 4.2. Tăng lương hưu, trợ cấp BHXH và trợ cấp hằng tháng từ 01/7/2026
- 4.3. Quy định chi tiết về hợp đồng lao động điện tử
- 5. Luật Doanh nghiệp
- 5.1. Cắt giảm ngành nghề kinh doanh có điều kiện từ 01/7/2026
- 6. Luật Tài chính
- 6.1. Thay đổi ngưỡng doanh thu chịu thuế thu nhập cá nhân, giá trị gia tăng năm 2026
1. Luật Dân sự
1.1. Từ 01/7/2026, người dân được gửi yêu cầu thi hành án dân sự qua VNeID và Cổng dịch vụ công quốc gia
Ngày 13/5/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 152/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Theo Điều 9 Nghị định 152/2026/NĐ-CP, đương sự có thể yêu cầu thi hành án bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó có hình thức gửi yêu cầu trên môi trường số qua Cổng Dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung của Bộ Tư pháp, ứng dụng VNeID hoặc các phương tiện điện tử khác theo quy định của pháp luật.
Ngoài hình thức trực tuyến, đương sự vẫn có thể trực tiếp nộp đơn yêu cầu thi hành án, trình bày bằng lời nói hoặc gửi đơn qua dịch vụ bưu chính. Trường hợp trình bày bằng lời nói thì cơ quan thi hành án dân sự phải lập biên bản có chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu và biên bản này có giá trị như đơn yêu cầu thi hành án.
1.2. Từ 01/7/2026, yêu cầu tương trợ tư pháp dân sự ra nước ngoài phải tạm ứng 3 triệu đồng
Ngày 15/05/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 158/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tương trợ tư pháp về dân sự, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Theo khoản 3 Điều 3 Nghị định 158/2026/NĐ-CP, trường hợp chi phí thực tế thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam chưa xác định được tại thời điểm lập hồ sơ, người có nghĩa vụ phải nộp tạm ứng 03 triệu đồng tại cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố nơi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam đặt trụ sở.
Khoản tiền tạm ứng này được cơ quan thi hành án dân sự sử dụng để thanh toán:
- Chi phí thực tế thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài;
- Các chi phí liên quan đến việc chuyển tiền ra nước ngoài.
Ngoài khoản tạm ứng nêu trên, trường hợp chi phí thực tế đã xác định được theo quy định của phía nước ngoài tại thời điểm lập hồ sơ thì người có nghĩa vụ phải trực tiếp nộp khoản chi phí này cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo quy định pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc gia liên quan.
2. Luật Hình sự
2.1. Từ 01/7/2026, áp dụng cơ sở dữ liệu thi hành án hình sự thống nhất toàn quốc
Ngày 15/5/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 160/2026/NĐ-CP quy định về cơ sở dữ liệu thi hành án hình sự, có hiệu lực từ ngày 01/07/2026.
Theo Điều 3 Nghị định 160/2026/NĐ-CP, cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự được xây dựng và quản lý tập trung, thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Việc quản lý, cập nhật, khai thác và sử dụng dữ liệu phải bảo đảm phân công, phân quyền rõ ràng, xác định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân và bảo đảm tính đầy đủ, chính xác, kịp thời của dữ liệu.
Nghị định cũng quy định cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự phải được xây dựng bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn dữ liệu, phù hợp với Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia; đồng thời bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành có liên quan, bảo đảm dữ liệu được thu thập, cập nhật một lần và được khai thác, sử dụng nhiều lần theo quy định của pháp luật.
3. Luật Hành chính
3.1. 7 trường hợp được xác định là vụ việc khiếu nại phức tạp từ 01/7/2026
Ngày 15/5/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 155/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 124/2020/NĐ-CP về thi hành Luật Khiếu nại. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Theo Điều 2 Nghị định 155/2026/NĐ-CP, vụ việc khiếu nại được xác định là phức tạp nếu thuộc một trong 07 trường hợp sau:
- Khiếu nại về một nội dung nhưng phải xác minh từ 02 địa điểm trở lên;
- Khiếu nại có từ 02 nội dung phải xác minh trở lên; nhiều người khiếu nại về cùng một nội dung hoặc nội dung khiếu nại liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều người;
- Người khiếu nại ở nước ngoài hoặc là người nước ngoài;
- Hành vi bị khiếu nại xảy ra ở nước ngoài hoặc nội dung khiếu nại phải xác minh ở nước ngoài;
- Nội dung khiếu nại liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều cơ quan, tổ chức;
- Các cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình giải quyết khiếu nại còn có ý kiến khác nhau;
- Có tài liệu, chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thời gian kiểm tra, xác minh, đánh giá hoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn.
4. Luật Lao động
4.1. Tăng lương cơ sở từ 01/7/2026
Ngày 15/05/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 161/2026/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Từ ngày 01/07/2026, mức lương cơ sở được quy định là 2.530.000 đồng/tháng. Mức lương này được dùng để tính lương, phụ cấp và các chế độ khác cho các đối tượng hưởng lương theo quy định của pháp luật. Đối với các cơ quan, đơn vị có cơ chế tài chính đặc thù, mức lương và thu nhập tăng thêm sẽ được điều chỉnh để không vượt quá mức tiền lương và thu nhập tăng thêm của tháng 6/2026.
Chế độ tiền thưởng được thực hiện dựa trên thành tích công tác đột xuất và kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng hàng năm. Tiền thưởng có thể được trao đột xuất hoặc định kỳ hàng năm, dựa trên kết quả theo dõi, đánh giá hàng quý, 6 tháng và hàng năm. Quỹ tiền thưởng hàng năm được xác định bằng 10% tổng quỹ tiền lương (không bao gồm phụ cấp) của các đối tượng trong danh sách trả lương.
4.2. Tăng lương hưu, trợ cấp BHXH và trợ cấp hằng tháng từ 01/7/2026
Ngày 15/5/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 162/2026/NĐ-CP về việc điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Từ ngày 01/7/2026, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng sẽ được điều chỉnh tăng thêm 8% so với mức của tháng 6/2026. Đối với những người có mức hưởng sau điều chỉnh thấp hơn 3.800.000 đồng/tháng, sẽ có thêm các điều chỉnh cụ thể:
- Tăng thêm 300.000 đồng/người/tháng cho những người có mức hưởng bằng hoặc thấp hơn 3.500.000 đồng/người/tháng;
- Tăng lên 3.800.000 đồng/người/tháng cho những người có mức hưởng cao hơn 3.500.000 đồng/người/tháng nhưng thấp hơn 3.800.000 đồng/người/tháng.
4.3. Quy định chi tiết về hợp đồng lao động điện tử
Ngày 15/5/2026, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư 08/2026/TT-BNV để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 337/2025/NĐ-CP về hợp đồng lao động điện tử. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Mỗi hợp đồng lao động điện tử sẽ được cấp một mã định danh (ID) duy nhất khi gửi về Nền tảng hợp đồng lao động điện tử. ID này không thay đổi ngay cả khi hợp đồng được sửa đổi, bổ sung, tạm hoãn hoặc chấm dứt.
Người sử dụng lao động và người lao động cần đăng ký tài khoản truy cập Nền tảng hợp đồng lao động điện tử thông qua tài khoản định danh điện tử quốc gia. Tài khoản có thể bị khóa trong các trường hợp như theo yêu cầu của chủ tài khoản, sự cố an toàn thông tin, hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Dữ liệu trên Nền tảng hợp đồng lao động điện tử được lưu trữ trong 10 năm kể từ khi hợp đồng chấm dứt. Việc khai thác và chia sẻ dữ liệu phải tuân thủ các nguyên tắc bảo mật và chỉ được thực hiện khi có căn cứ pháp lý phù hợp.
5. Luật Doanh nghiệp
5.1. Cắt giảm ngành nghề kinh doanh có điều kiện từ 01/7/2026
Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết 66.17/2026/NQ-CP quy định việc cắt giảm, sửa đổi ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện quy định tại Phụ lục IV của luật Đầu tư năm 2025.
Theo đó, cắt giảm những ngành, nghề không thật sự cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng theo quy định tại khoản 1 điều 7 của luật Đầu tư.
Cắt giảm những ngành, nghề mà điều kiện đầu tư kinh doanh có thể nghiên cứu quản lý thông qua tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn nghề để quản lý theo phương thức hậu kiểm.
Cắt giảm, sửa đổi những ngành, nghề mà điều kiện đầu tư kinh doanh không rõ ràng hoặc có tính chất tương tự nhau, đã được kiểm soát thông qua hoạt động quản lý khác hoặc những ngành, nghề mà từ khi được quy định cho đến nay vẫn chưa ban hành được điều kiện đầu tư kinh doanh hoặc đã không còn quy định điều kiện đầu tư kinh doanh.
Nghị quyết 66.17/2026/NQ-CP ban hành danh mục 142 ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, gồm kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm, vàng, xăng dầu, vận tải hàng không, bất động sản, dịch vụ viễn thông, dịch vụ khám chữa bệnh, hoạt động giáo dục đại học, phổ thông và mầm non; kinh doanh dịch vụ viễn thông và mạng xã hội; hành nghề luật sư, công chứng và giám định tư pháp…
6. Luật Tài chính
6.1. Thay đổi ngưỡng doanh thu chịu thuế thu nhập cá nhân, giá trị gia tăng năm 2026
Luật số 09/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt có nhiều nội dung đáng chú ý như:
- Luật bãi bỏ ngưỡng doanh thu 500 triệu đồng/năm chịu thuế thu nhập cá nhân, giá trị gia tăng, thay bằng mức quy định của Chính phủ - có hiệu lực từ 01/01/2026.
- Thu nhập của doanh nghiệp, tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam có tổng doanh thu năm từ mức quy định của Chính phủ trở xuống được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp - có hiệu lực từ 01/01/2026.
- Gia hạn ưu đãi thuế tiêu thụ đặc biệt với xe ô tô điện đến 2031 - có hiệu lực từ 24/4/2026.
RSS