Tăng giảm font chữ:

Phân biệt Tội cướp tài sản và Tội cướp giật tài sản

Cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Cướp giật tài sản là việc lợi dụng sơ hở, dùng thủ đoạn tinh vi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản…

Trong thời gian qua, tội phạm cướp giật tài sản và cướp tài sản có dấu hiệu gia tăng, đe dọa đến an ninh, an toàn xã hội. Đây cũng là hai loại tội phạm khiến nhiều người nhầm lẫn nhất. Vậy Tội cướp tài sản và cướp giật tài sản có gì giống và khác nhau?

Trước hết, Cướp tài sản và Cướp giật tài sản đều là hành vi vi phạm pháp luật và nằm trong nhóm các tội xâm phạm quyền sở hữu được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1999.  Người thực hiện hành vi phạm tội trong cả hai tội đều là lỗi cố ý trực tiếp, mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc . Tuy nhiên, hành vi thực hiện tội Cướp tài sản và Cướp giật tài sản là hoàn toàn khác nhau.

Hành vi của tội phạm

Theo Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999, cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.

Trong đó, hành vi dùng vũ lực là việc người phạm tội dùng các hành động như đấm, đá, bóp cổ, đâm, chém… tác động vào cơ thể nạn nhân. Tuy nhiên, hậu quả của hành vi dùng vũ lực này có thể khiến cho nạn nhân bị thương tích, bị tổn hại sức khỏe hoặc bị chết ngoài ý muốn của người phạm tội. Đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc là hành vi dùng lời nói hoặc hành động nhằm đe dọa nạn nhân nếu không đáp ứng yêu cầu sẽ tấn công bằng vũ lực. Các hành vi khác là những hành vi không phải dùng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc, như: dùng thuốc mê, ête, thuốc ngủ... làm cho nạn nhân lâm vào trạng thái hôn mê, không còn khả năng chống cự.

Khác với Tội cướp tài sản, trong Tội cướp giật tài sản, người phạm tội không dùng vũ lực, không đe dọa dùng vũ lực cũng không làm cho nạn nhân lâm vào tình trạng không thể chống cự mà lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản, bằng thủ đoạn tinh vi để nhanh chóng chiếm đoạt tài sản. Đặc trưng của tội phạm này là công khai chiếm đoạt tài sản. Ví dụ như giật túi xách, điện thoại của người đi đường rồi bỏ chạy.

 


Hình ảnh minh họa
Chế tài xử phạt

Người phạm một trong hai tội này đều phải đối mặt với án phạt tù. Cụ thể, người phạm Tội cướp tài sản sẽ phải chịu mức phạt thấp nhất là 03 năm tù và cao nhất là tử hình, tùy thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm, giá trị tài sản chiếm đoạt (Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999). Tuy nhiên, vào ngày 01/01/2018, Bộ luật Hình sự năm 2015 sẽ chính thức có hiệu lực, thay thế cho Bộ luật Hình sự năm 1999, trong đó, hình phạt tử hình đối với tội Cướp tài sản sẽ bị bãi bỏ. Mức phạt cao nhất đối với tội này theo Luật mới là tù chung thân.

Người phạm Tội cướp giật tài sản sẽ chịu mức phạt thấp hơn so với Tội cướp tài sản. Theo Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999, người phạm Tội cướp giật tài sản sẽ bị phạt tù từ 01 năm đến chung thân. Mức phạt cũng phụ thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm, giá trị tài sản bị cướp giật… Tại Bộ luật Hình sự năm 2015, mức phạt đối với Tội cướp giật tài sản cũng vẫn được quy định tương tự như tại Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngoài hình phạt tù, người phạm tội còn phải chịu các hình phạt bổ sung. Đối với Tội cướp tài sản, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10 - 100 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 - 05 năm. Trong khi đó, người phạm Tội cướp giật tài sản chỉ bị phạt tiền từ 10 - 100 triệu đồng.

Trên đây là những dấu hiệu cơ bản để phân biệt Tội cướp tài sản và Tội cướp giật tài sản. Trong từng trường hợp cụ thể, cơ quan chức năng sẽ dựa vào các chứng cứ có được và kết quả điều tra để định tội.

Để tìm hiểu thêm về các quy định liên quan, bạn đọc tham khảo:

Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 của Quốc hội

Bộ luật Hình sự của Quốc hội, số 100/2015/QH13

 

 

Chia sẻ:
Từ khóa: cướp tài sản

Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi

1900.6192 hoặc gửi câu hỏi tại đây

Tải app LuatVietnam miễn phí tại đây