Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi: 4 điểm mới nổi bật

Nhằm nâng cao giá trị của các văn bản pháp luật, ngày 18/6/2020, Quốc hội khóa XIV đã chính thức thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 63/2020/QH14 với nhiều nội dung đáng chú ý.

1. Thêm nhiều văn bản được coi là văn bản quy phạm pháp luật

Ngoài các văn bản quy phạm pháp luật như hiện nay, khoản 1 Điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi còn bổ sung thêm một số văn bản khác. Cụ thể là Thông tư liên tịch giữa các chủ thể:

- Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;

- Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Tổng Kiểm toán nhà nước;

- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

Các chủ thể này ban hành Thông tư liên tịch để quy định về việc phối hợp của các cơ quan trong việc thực hiện trình tự, thủ tục về tố tụng và phòng, chống tham nhũng (thay vì chỉ về trình tự, thủ tục tố tụng như hiện nay).
 

2. Văn bản có thể bị bãi bỏ bởi văn bản của cơ quan khác

Nếu như khoản 1 Điều 12 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 quy định:

Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên có thẩm quyền.

Thì khoản 3 Điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi đã điều chỉnh nội dung này theo hướng phù hợp với thực tiễn, đảm bảo giá trị cho các văn bản được ban hành:

Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan khác có thẩm quyền.

4 điểm mới của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi

4 điểm mới của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi (Ảnh minh họa)
 

3. Vẫn được áp dụng văn bản cũ dù đã có văn bản mới

Liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật, cũng theo khoản 3 Điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi:

Khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan ban hành phải sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản do mình đã ban hành trái với quy định của văn bản mới ngay trong văn bản mới đó.

Trường hợp chưa thể sửa đổi, bổ sung ngay thì phải xác định rõ trong văn bản mới danh mục văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản mà mình đã ban hành trái với quy định của văn bản mới và có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung trước khi văn bản quy phạm pháp luật mới có hiệu lực.

Đặc biệt, trường hợp văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản đã ban hành có quy định khác với văn bản mới nhưng cần tiếp tục được áp dụng thì phải được chỉ rõ trong văn bản mới đó.

Điều này đồng nghĩa với việc, dù có văn bản mới nhưng văn bản cũ vẫn phù hợp với thực tiễn thì vẫn được áp dụng cho đến thời điểm được quy định trong văn bản mới.
 

4. Thêm trường hợp văn bản được ban hành theo thủ tục rút gọn

So với hiện nay, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã bổ sung thêm 03 trường hợp văn bản được xây dựng, ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn.

Và như vậy, tới đây, sẽ có 05 trường hợp xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn. Cụ thể:

- Trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp; trường hợp đột xuất, khẩn cấp trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cháy, nổ; trường hợp cấp bách để giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn.

- Trường hợp để ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần của văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

- Trường hợp cần sửa đổi ngay cho phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành; cần ban hành ngay văn bản để thực hiện điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (mới).

- Trường hợp để bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội (mới).

- Trường hợp để kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần của văn bản quy phạm pháp luật trong một thời hạn nhất định để giải quyết những vấn đề cấp bách phát sinh trong thực tiễn (mới).

Trên đây là một số điểm thay đổi tiêu biểu của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật so với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 hiện hành, LuatVietnam sẽ cập nhật ngay khi có toàn văn Luật này.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
(1 đánh giá)
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Không công bố Bản cáo bạch khi chào bán tài sản mã hóa bị xử phạt thế nào?

Không công bố Bản cáo bạch khi chào bán tài sản mã hóa bị xử phạt thế nào?

Không công bố Bản cáo bạch khi chào bán tài sản mã hóa bị xử phạt thế nào?

Bản cáo bạch là một trong những tài liệu quan trọng gắn với hoạt động chào bán, phát hành và việc cung cấp thông tin cho nhà đầu tư. Vậy không công bố Bản cáo bạch khi chào bán tài sản mã hóa bị xử phạt thế nào, ngoài tiền phạt còn phải chịu hậu quả gì?

Mức tiền thưởng đối với danh hiệu chiến sĩ thi đua là bao nhiêu theo quy định mới nhất?

Mức tiền thưởng đối với danh hiệu chiến sĩ thi đua là bao nhiêu theo quy định mới nhất?

Mức tiền thưởng đối với danh hiệu chiến sĩ thi đua là bao nhiêu theo quy định mới nhất?

Danh hiệu chiến sĩ thi đua gồm các cấp khác nhau và mức tiền thưởng đối với mỗi danh hiệu cũng không giống nhau. Theo Nghị định 368/2026/NĐ-CP, tiền thưởng được xác định theo hệ số của mức lương cơ sở, trong đó Chiến sĩ thi đua toàn quốc có hệ số thưởng cao nhất.

Nội dung quản lý nhà nước về trí tuệ nhân tạo gồm những gì?

Nội dung quản lý nhà nước về trí tuệ nhân tạo gồm những gì?

Nội dung quản lý nhà nước về trí tuệ nhân tạo gồm những gì?

Cùng với sự phát triển của công nghệ, việc xây dựng cơ chế quản lý nhà nước nhằm bảo đảm trí tuệ nhân tạo (AI) được phát triển an toàn, minh bạch và có trách nhiệm là yêu cầu quan trọng. Vậy cơ quan nào quản lý nhà nước về trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam? 

Hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao là gì?

Hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao là gì?

Hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao là gì?

Hệ thống trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra những tác động khác nhau tùy thuộc vào lĩnh vực sử dụng và mức độ ảnh hưởng. Vậy hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao là gì? Hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao  được xác định dựa trên những tiêu chí nào và phải đáp ứng yêu cầu quản lý ra sao? 

Huân chương Đại đoàn kết dân tộc được trao cho những ai? Mức tiền thưởng Huân chương Đại đoàn kết dân tộc

Huân chương Đại đoàn kết dân tộc được trao cho những ai? Mức tiền thưởng Huân chương Đại đoàn kết dân tộc

Huân chương Đại đoàn kết dân tộc được trao cho những ai? Mức tiền thưởng Huân chương Đại đoàn kết dân tộc

Huân chương Đại đoàn kết dân tộc là hình thức khen thưởng được Nghị định 368/2026/NĐ-CP quy định cụ thể về đối tượng, tiêu chuẩn và mức tiền thưởng. 

Cơ sở dữ liệu quốc gia về trí tuệ nhân tạo được xây dựng và khai thác như thế nào?

Cơ sở dữ liệu quốc gia về trí tuệ nhân tạo được xây dựng và khai thác như thế nào?

Cơ sở dữ liệu quốc gia về trí tuệ nhân tạo được xây dựng và khai thác như thế nào?

Nghị định 142/2026/NĐ-CP quy định cụ thể về nguyên tắc tổ chức, trách nhiệm xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về trí tuệ nhân tạo cũng như cách thức tổ chức, cá nhân được tiếp cận và khai thác nguồn dữ liệu này.