Nội dung dưới đây LuatVietnam tổng hợp tình huống được người dùng hỏi trên AI Luật - Trợ lý LuatVietnam.vn về đơn vị logistics giao hàng chậm, doanh nghiệp có được yêu cầu bồi thường tiền phạt hợp đồng không?
AI Luật trả lời: Công ty A có thể yêu cầu đơn vị logistics bồi thường khoản tiền phạt mà khách hàng nước ngoài áp dụng, nhưng không đương nhiên được chấp nhận. Công ty A phải chứng minh đồng thời:
- Đơn vị logistics đã vi phạm nghĩa vụ giao hàng đúng thời hạn theo hợp đồng;
- Việc giao hàng chậm 10 ngày là do lỗi của đơn vị logistics;
- Khoản tiền phạt mà khách hàng nước ngoài yêu cầu là thiệt hại thực tế, hợp lý và phát sinh trực tiếp từ việc giao hàng chậm;
- Công ty A đã thực hiện đúng nghĩa vụ thông báo, khiếu nại và cung cấp chứng cứ;
- Khoản bồi thường không vượt quá giới hạn trách nhiệm theo hợp đồng hoặc pháp luật, trừ trường hợp đơn vị logistics cố ý hoặc hành động liều lĩnh dẫn đến chậm giao hàng.
1. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường
Căn cứ vào Điều 303 Luật Thương mại số 36/2005/QH11, có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng phát sinh khi có đủ:
Có hành vi vi phạm hợp đồng;
Có thiệt hại thực tế;
Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.
Trong trường hợp này:
- Việc giao hàng muộn 10 ngày có thể là hành vi vi phạm nghĩa vụ về thời hạn giao hàng;
- Khoản tiền phạt mà Công ty A thực tế phải trả cho khách hàng có thể được xem là thiệt hại thực tế, nếu có hợp đồng, thông báo phạt, chứng từ thanh toán hoặc tài liệu xác nhận nghĩa vụ phạt;
- Công ty A phải chứng minh việc bố trí tàu chậm của đơn vị logistics là nguyên nhân trực tiếp khiến hàng giao muộn và dẫn đến khoản phạt.
Theo khoản 2 Điều 419 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017, người có quyền có thể yêu cầu bồi thường lợi ích lẽ ra được hưởng từ hợp đồng và các chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng, nếu các khoản này không bị trùng lặp.
Vì vậy, khoản tiền phạt hợp đồng mà Công ty A phải trả cho khách hàng nước ngoài có thể được yêu cầu đơn vị logistics hoàn trả dưới dạng thiệt hại, nếu chứng minh được mối quan hệ trực tiếp giữa việc giao hàng chậm và khoản phạt.

2. Đơn vị logistics có thể được miễn trách nhiệm nếu không có lỗi
Căn cứ vào khoản 2 Điều 237 Luật Thương mại số 36/2005/QH11, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không phải chịu trách nhiệm về sự chậm trễ nếu việc chậm trễ không do lỗi của mình.
Do đó, cần xác định nguyên nhân cụ thể:
- Nếu đơn vị logistics tự bố trí tàu chậm, đặt chỗ không đúng thời hạn, điều phối không phù hợp hoặc không thông báo kịp thời cho Công ty A thì đây là cơ sở để xem xét lỗi của đơn vị logistics;
- Nếu tàu chậm do thời tiết đặc biệt, thiên tai, chiến tranh, lệnh của cơ quan nhà nước, sự cố khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng mà đơn vị logistics không thể lường trước và không thể khắc phục, đơn vị logistics có thể được miễn trách nhiệm;
- Nếu hợp đồng logistics có điều khoản loại trừ trách nhiệm đối với việc chậm tàu, cần kiểm tra điều khoản đó có áp dụng cho trường hợp này hay không.
Ngoài ra, theo Điều 294 Luật Thương mại số 36/2005/QH11, bên vi phạm có thể được miễn trách nhiệm nếu xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trường hợp miễn trách nhiệm đã được các bên thỏa thuận. Tuy nhiên, theo Điều 295 Luật Thương mại số 36/2005/QH11, bên viện dẫn trường hợp miễn trách nhiệm phải thông báo ngay bằng văn bản và có nghĩa vụ chứng minh.
3. Khoản tiền phạt của khách hàng có được bồi thường toàn bộ hay không?
Không phải mọi khoản phạt mà khách hàng nước ngoài áp dụng đều mặc nhiên được đơn vị logistics bồi thường toàn bộ. Công ty A nên chứng minh:
- Hợp đồng xuất khẩu có điều khoản phạt do giao hàng chậm;
- Mức phạt và cách tính phạt đã được thỏa thuận trước khi xảy ra vi phạm;
- Khách hàng đã thực sự yêu cầu hoặc khấu trừ khoản phạt;
- Công ty A đã thực tế thanh toán hoặc bị khấu trừ khoản tiền đó;
- Mức phạt không bất thường, không do Công ty A tự nguyện chấp nhận vượt quá nghĩa vụ hợp đồng;
- Đơn vị logistics đã được thông báo về thời hạn giao hàng và hậu quả nếu giao chậm.
Căn cứ vào Điều 418 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13, phạt vi phạm là khoản tiền do các bên trong hợp đồng thỏa thuận. Việc bên vi phạm vừa chịu phạt vừa bồi thường thiệt hại phải được xác định theo thỏa thuận hoặc quy định pháp luật liên quan.
Quy định này chủ yếu điều chỉnh quan hệ giữa Công ty A và khách hàng nước ngoài cũng như quan hệ giữa Công ty A và đơn vị logistics. Vì vậy, cần xem hợp đồng logistics có quy định đơn vị logistics phải chịu các khoản phạt mà Công ty A phải trả cho khách hàng hay không.
4. Giới hạn trách nhiệm của đơn vị logistics
Căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 238 Luật Thương mại số 36/2005/QH11, trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics thường bị giới hạn theo thỏa thuận hoặc theo giới hạn trách nhiệm do pháp luật quy định. Tuy nhiên, đơn vị logistics không được hưởng quyền giới hạn trách nhiệm nếu chứng minh được việc giao hàng chậm là do đơn vị này cố ý hoặc hành động liều lĩnh, biết rõ hậu quả chậm giao hàng chắc chắn xảy ra.
Nếu áp dụng Điều 5 Nghị định 163/2017/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 20/02/2018, và pháp luật chuyên ngành không có giới hạn khác:
- Nếu Công ty A không thông báo trước trị giá hàng hóa: giới hạn trách nhiệm tối đa là 500.000.000 đồng cho mỗi yêu cầu bồi thường;
- Nếu Công ty A đã thông báo trước trị giá hàng hóa và được đơn vị logistics xác nhận: giới hạn trách nhiệm không vượt quá trị giá hàng hóa;
- Nếu hợp đồng có thỏa thuận về giới hạn trách nhiệm thì cần ưu tiên xem xét thỏa thuận đó, trừ trường hợp thỏa thuận trái quy định bắt buộc của pháp luật.
Trường hợp đơn vị logistics thực chất là người vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, có thể áp dụng khoản 4 Điều 152 Bộ luật Hàng hải Việt Nam số 95/2015/QH13, có hiệu lực từ ngày 01/07/2017. Theo đó, trách nhiệm đối với việc chậm trả hàng được giới hạn bằng 2,5 lần giá dịch vụ vận chuyển của số hàng trả chậm, nhưng không vượt quá tổng giá dịch vụ vận chuyển phải trả theo hợp đồng vận chuyển đường biển.
Như vậy, phải xác định đơn vị logistics chỉ là bên tổ chức dịch vụ logistics hay đồng thời là người vận chuyển theo hợp đồng vận chuyển đường biển để xác định giới hạn trách nhiệm phù hợp.
5. Thời hạn khiếu nại
Theo điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 237 Luật Thương mại số 36/2005/QH11:
- Đơn vị logistics có thể không chịu trách nhiệm nếu không nhận được thông báo khiếu nại trong thời hạn 14 ngày kể từ ngày giao hàng;
- Sau khi bị khiếu nại, nếu đơn vị logistics không nhận được thông báo về việc bị kiện tại Trọng tài hoặc Tòa án trong thời hạn 09 tháng kể từ ngày giao hàng, họ có thể được miễn trách nhiệm theo quy định này.
Tuy nhiên, cần đối chiếu với hợp đồng logistics và loại hình vận chuyển cụ thể để xác định thời hạn áp dụng chính xác.
Hồ sơ Công ty A nên chuẩn bị
Công ty A nên thu thập:
- Hợp đồng xuất khẩu với khách hàng nước ngoài;
- Điều khoản quy định thời hạn giao hàng trước ngày 15/08 và mức phạt giao hàng chậm;
- Hợp đồng logistics, booking, vận đơn, lịch tàu và xác nhận đặt chỗ;
- Email hoặc văn bản thể hiện đơn vị logistics bố trí tàu chậm;
- Tài liệu thể hiện hàng thực tế giao chậm 10 ngày;
- Thông báo phạt, debit note hoặc yêu cầu thanh toán của khách hàng nước ngoài;
- Chứng từ Công ty A đã thanh toán hoặc bị khấu trừ khoản phạt;
- Văn bản khiếu nại đơn vị logistics trong thời hạn phù hợp;
- Tài liệu chứng minh đơn vị logistics không thuộc trường hợp bất khả kháng hoặc miễn trách nhiệm.
Kết luận cuối cùng
Công ty A có cơ sở yêu cầu đơn vị logistics bồi thường khoản tiền phạt, nếu chứng minh được việc đơn vị logistics bố trí tàu chậm là lỗi trực tiếp dẫn đến giao hàng muộn và khoản phạt là thiệt hại thực tế, hợp lý.
Tuy nhiên, yêu cầu có thể bị bác hoặc chỉ được chấp nhận một phần nếu:
- Việc chậm giao hàng không do lỗi của đơn vị logistics;
- Có sự kiện bất khả kháng;
- Công ty A không thông báo khiếu nại đúng thời hạn;
- Khoản phạt không được chứng minh hoặc không phát sinh thực tế;
- Khoản phạt vượt quá giới hạn trách nhiệm theo hợp đồng hoặc pháp luật.
- Có đầy đủ căn cứ pháp lý (mới nhất) ở mỗi câu trả lời
- Văn phong tự nhiên như trò chuyện với chuyên gia
Trải nghiệm ngayTẠI ĐÂY
RSS