Nội dung dưới đây LuatVietnam tổng hợp tình huống được người dùng hỏi trên AI Luật - Trợ lý LuatVietnam.vn về Doanh nghiệp có được yêu cầu vừa phạt vừa bồi thường không?
AI Luật trả lời: Về nguyên tắc, Công ty A có quyền yêu cầu Công ty B đồng thời chịu phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại, vì đây là hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các doanh nghiệp và hợp đồng đã có thỏa thuận về phạt vi phạm.
1. Công ty B đã vi phạm nghĩa vụ giao hàng đúng hạn
Căn cứ Điều 37 Luật Thương mại số 36/2005/QH11, có hiệu lực từ ngày 01/01/2006:
- Bên bán phải giao hàng vào đúng thời điểm giao hàng đã thoả thuận trong hợp đồng.
Theo thông tin bạn cung cấp, Công ty B phải giao hàng trước ngày 01/08/2026 nhưng đã giao chậm 30 ngày. Nếu không có căn cứ miễn trách nhiệm hợp lệ, đây là hành vi vi phạm nghĩa vụ giao hàng.
2. Công ty A có quyền yêu cầu phạt vi phạm
Căn cứ Điều 300 Luật Thương mại số 36/2005/QH11, phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả tiền phạt nếu trong hợp đồng có thỏa thuận.
Hợp đồng đã quy định mức phạt là 10% giá trị hợp đồng nên về nguyên tắc, Công ty A có cơ sở yêu cầu áp dụng điều khoản phạt này.
Nếu 10% được tính trên tổng giá trị hợp đồng 3 tỷ đồng thì số tiền phạt theo thỏa thuận là:
3.000.000.000 đồng × 10% = 300.000.000 đồng.

3. Công ty A có thể yêu cầu bồi thường 500 triệu đồng nếu chứng minh được thiệt hại
Căn cứ Điều 302 Luật Thương mại số 36/2005/QH11, giá trị bồi thường bao gồm:
- Tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu;
- Khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.
Căn cứ Điều 303 Luật Thương mại số 36/2005/QH11, trách nhiệm bồi thường phát sinh khi có đủ:
- Hành vi vi phạm hợp đồng;
- Thiệt hại thực tế;
- Hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.
Ngoài ra, theo Điều 304 Luật Thương mại số 36/2005/QH11, Công ty A phải chứng minh:
- Có tổn thất thực tế;
- Mức độ tổn thất;
- Khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng;
- Mối quan hệ trực tiếp giữa việc Công ty B giao hàng chậm và khoản thiệt hại 500 triệu đồng.
Việc đối tác của Công ty A hủy đơn hàng là căn cứ quan trọng, nhưng chưa đương nhiên chứng minh toàn bộ 500 triệu đồng đều là thiệt hại được bồi thường. Công ty A nên chuẩn bị hợp đồng với đối tác, thông báo hủy đơn hàng, chứng từ thể hiện giá trị đơn hàng, lợi nhuận dự kiến, chi phí phát sinh và tài liệu chứng minh việc hủy đơn hàng xuất phát trực tiếp từ việc giao hàng chậm.
4. Quyền yêu cầu đồng thời phạt và bồi thường
Căn cứ Điều 307 Luật Thương mại số 36/2005/QH11:
- Trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.
Do hợp đồng có thỏa thuận phạt vi phạm, Công ty A có thể đồng thời yêu cầu:
- Phạt vi phạm theo mức 10% đã thỏa thuận;
- Bồi thường thiệt hại thực tế, trực tiếp do việc giao hàng chậm gây ra, với số tiền yêu cầu là 500 triệu đồng nếu chứng minh được đầy đủ.
Việc hợp đồng không có điều khoản riêng về bồi thường thiệt hại không làm mất quyền yêu cầu bồi thường của Công ty A, vì quyền này phát sinh theo quy định pháp luật khi có đủ điều kiện về vi phạm, thiệt hại thực tế và quan hệ nhân quả.
Kết luận
Công ty A có cơ sở yêu cầu Công ty B đồng thời:
- Chịu phạt vi phạm theo thỏa thuận 10% giá trị hợp đồng;
- Bồi thường 500 triệu đồng nếu chứng minh được đây là thiệt hại thực tế, trực tiếp và do việc giao hàng chậm gây ra.
Nếu tạm tính 10% trên tổng giá trị hợp đồng 3 tỷ đồng thì tiền phạt là 300 triệu đồng. Khi đó, tổng số tiền Công ty A dự kiến yêu cầu là 800 triệu đồng, gồm 300 triệu đồng tiền phạt và 500 triệu đồng tiền bồi thường. Tuy nhiên, số tiền thực tế được chấp nhận còn phụ thuộc vào giới hạn phạt áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa và chứng cứ chứng minh thiệt hại.
- Được huấn luyện trên hệ thống văn bản Đúng - Đủ - Sạch - Sống
- Có đầy đủ căn cứ pháp lý (mới nhất) ở mỗi câu trả lời
- Văn phong tự nhiên như trò chuyện với chuyên gia
Trải nghiệm ngay TẠI ĐÂY
RSS