Giải thưởng Tạ Quang Bửu được xét tặng nhằm tôn vinh những nhà khoa học có kết quả nghiên cứu cơ bản xuất sắc. Để được xét tặng, nhà khoa học và công trình nghiên cứu phải đáp ứng các điều kiện về công bố quốc tế, giá trị khoa học và tính liêm chính trong nghiên cứu.
- 1. Tiêu chuẩn xét tặng Giải thưởng Tạ Quang Bửu
- 1.1. Có hồ sơ đề nghị xét tặng đầy đủ, hợp lệ
- 1.2. Kết quả nghiên cứu phải đáp ứng yêu cầu về công bố khoa học
- Thứ nhất, về địa điểm thực hiện nghiên cứu
- Thứ hai, về hình thức và nơi công bố
- Thứ ba, về thời gian công bố
- Thứ tư, về việc đã được xét tặng hoặc trao thưởng
- 1.3. Nhà khoa học phải có đóng góp quan trọng, mang tính quyết định
- 1.4. Kết quả nghiên cứu phải có giá trị khoa học nổi bật
- 1.5. Mỗi nhà khoa học chỉ được ứng cử hoặc đề cử một lần trong mỗi kỳ xét tặng
- 1.6. Không vi phạm quy định về liêm chính nghiên cứu, đạo đức khoa học và quyền tác giả
- 2. Nguyên tắc đánh giá kết quả nghiên cứu để xét tặng Giải thưởng
- 2.1. Đánh giá tính mới, tính sáng tạo và giá trị khoa học của công trình
- 2.2. Đánh giá vai trò của nhà khoa học đối với kết quả nghiên cứu
- 2.3. Xếp hạng và chỉ số tác động của tạp chí có quyết định kết quả xét tặng không?
- 2.4. Không bắt buộc trao đủ số lượng Giải thưởng trong mỗi kỳ xét tặng
- 3. Điều kiện xét tặng Giải thưởng chính và Giải thưởng dành cho nhà khoa học trẻ
- 3.1. Nhà khoa học trẻ phải dưới 35 tuổi khi kết thúc nhận hồ sơ
- 3.2. Hồ sơ tham gia xét tặng được tiếp nhận trong thời hạn 3 tháng
- 3.3. Hồ sơ được đánh giá qua hai cấp Hội đồng
- 3.4. Mức thưởng và quyền lợi của nhà khoa học đạt Giải thưởng

1. Tiêu chuẩn xét tặng Giải thưởng Tạ Quang Bửu
Theo Điều 8 Quy chế Giải thưởng Tạ Quang Bửu ban hành kèm Thông tư 50/2026/TT-BKHCN, nhà khoa học được đề nghị xét tặng phải đáp ứng 06 nhóm tiêu chuẩn về hồ sơ, kết quả nghiên cứu, đóng góp cá nhân, giá trị khoa học, số lần tham gia và liêm chính nghiên cứu.
1.1. Có hồ sơ đề nghị xét tặng đầy đủ, hợp lệ
Khoản 1 Điều 8 Quy chế ban hành kèm Thông tư 50/2026/TT-BKHCN quy định:
“Các cá nhân ứng cử hoặc được tổ chức/cá nhân đề cử có hồ sơ đề nghị xét tặng đầy đủ, hợp lệ theo quy định tại Điều 9 Quy chế này.”
Theo đó, nhà khoa học muốn tham gia xét tặng Giải thưởng phải có hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, bất kể tự ứng cử hay được tổ chức, cá nhân khác đề cử.
Về thành phần hồ sơ, khoản 1 Điều 9 Quy chế quy định gồm:
- Đơn đề nghị xét tặng Giải thưởng (bản chính) theo mẫu TQB01;
- Báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu (bản chính) theo mẫu TQB02;
- Tài liệu chứng minh việc công bố của tối đa 03 kết quả nghiên cứu đáp ứng tiêu chuẩn;
- Tài liệu khác liên quan đến công trình, nếu có.
Nhà khoa học có thể sử dụng tài liệu chứng minh việc công bố của tối đa 03 kết quả nghiên cứu trong hồ sơ đề nghị xét tặng.
1.2. Kết quả nghiên cứu phải đáp ứng yêu cầu về công bố khoa học
Khoản 2 Điều 8 Quy chế ban hành kèm Thông tư 50/2026/TT-BKHCN quy định:
“2. Có kết quả nghiên cứu đáp ứng các tiêu chuẩn sau:
a) Được thực hiện chủ yếu tại Việt Nam;
b) Kết quả nghiên cứu là bài báo khoa học đã được công bố trên tạp chí quốc tế có uy tín. Tạp chí quốc tế có uy tín là tạp chí khoa học thuộc Danh mục tạp chí của cơ sở dữ liệu Web of Science hoặc Scopus. Thời gian công bố tính đến thời điểm kết thúc nhận hồ sơ không quá năm (05) năm;
c) Không trùng với các công trình đã được xét tặng hoặc trao thưởng trong các Giải thưởng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo khác.”
Theo đó, kết quả nghiên cứu được đề nghị xét tặng phải đáp ứng đồng thời các yêu cầu:
Thứ nhất, về địa điểm thực hiện nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu phải được thực hiện chủ yếu tại Việt Nam.
Thứ hai, về hình thức và nơi công bố
Kết quả nghiên cứu phải là bài báo khoa học đã công bố trên tạp chí quốc tế có uy tín, thuộc danh mục tạp chí của một trong hai cơ sở dữ liệu:
- Web of Science;
- Scopus.
Thứ ba, về thời gian công bố
Bài báo khoa học phải được công bố trong thời gian không quá 05 năm tính đến thời điểm kết thúc nhận hồ sơ.
Thứ tư, về việc đã được xét tặng hoặc trao thưởng
Kết quả nghiên cứu không được trùng với công trình đã được xét tặng hoặc trao thưởng trong các Giải thưởng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo khác.
Như vậy, việc có bài báo đăng trên tạp chí quốc tế chưa đủ để đáp ứng tiêu chuẩn. Kết quả nghiên cứu còn phải thỏa mãn yêu cầu về nơi thực hiện, thời gian công bố và không trùng với công trình đã được xét tặng hoặc trao thưởng.
1.3. Nhà khoa học phải có đóng góp quan trọng, mang tính quyết định
Khoản 3 Điều 8 Quy chế ban hành kèm Thông tư 50/2026/TT-BKHCN quy định:
“Cá nhân được đề nghị xét tặng phải có đóng góp khoa học quan trọng, mang tính quyết định đối với kết quả nghiên cứu quy định tại khoản 2 Điều này; chứng minh được vai trò chủ yếu trong việc hình thành ý tưởng, tổ chức thực hiện hoặc công bố kết quả nghiên cứu;”
Theo quy định, nhà khoa học phải có đóng góp quan trọng, mang tính quyết định đối với kết quả nghiên cứu và chứng minh được vai trò chủ yếu của mình trong một hoặc các hoạt động:
- Hình thành ý tưởng nghiên cứu;
- Tổ chức thực hiện nghiên cứu;
- Công bố kết quả nghiên cứu.
Tiêu chuẩn này không chỉ xét đến kết quả nghiên cứu mà còn xem xét vai trò và mức độ đóng góp thực tế của cá nhân được đề nghị xét tặng.
1.4. Kết quả nghiên cứu phải có giá trị khoa học nổi bật
Khoản 4 Điều 8 Quy chế ban hành kèm Thông tư 50/2026/TT-BKHCN quy định:
“Kết quả nghiên cứu được đề nghị xét tặng phải có giá trị khoa học nổi bật;”
Kết quả nghiên cứu phải được đánh giá có giá trị khoa học nổi bật để đáp ứng tiêu chuẩn xét tặng Giải thưởng. Việc đánh giá giá trị khoa học được thực hiện theo các tiêu chí tại Điều 10 Quy chế, trong đó xem xét tính mới, tính sáng tạo, ý nghĩa khoa học và đóng góp của kết quả nghiên cứu.
1.5. Mỗi nhà khoa học chỉ được ứng cử hoặc đề cử một lần trong mỗi kỳ xét tặng
Khoản 5 Điều 8 Quy chế ban hành kèm Thông tư 50/2026/TT-BKHCN quy định:
“Mỗi nhà khoa học chỉ được đề cử hoặc tự ứng cử một (01) lần trong mỗi kỳ xét tặng Giải thưởng. Tổ chức, cá nhân có thể đề cử nhiều nhà khoa học khác nhau;”
Theo đó:
- Mỗi nhà khoa học chỉ được tham gia 01 lần trong một kỳ xét tặng, thông qua hình thức tự ứng cử hoặc được đề cử.
- Tổ chức, cá nhân được phép đề cử nhiều nhà khoa học khác nhau.
Ngoài ra, theo Mẫu TQB01 ban hành kèm Thông tư, nhà khoa học chỉ được lựa chọn 01 lĩnh vực nghiên cứu và 01 loại Giải thưởng khi đăng ký tham gia xét tặng.
1.6. Không vi phạm quy định về liêm chính nghiên cứu, đạo đức khoa học và quyền tác giả
Khoản 6 Điều 8 Quy chế ban hành kèm Thông tư 50/2026/TT-BKHCN quy định:
“Không vi phạm quy định về liêm chính nghiên cứu, đạo đức khoa học, quyền tác giả; không thuộc trường hợp có tranh chấp, khiếu nại hoặc có kết luận vi phạm liên quan đến công trình đề nghị xét tặng tại thời điểm nộp hồ sơ.”
Nhà khoa học được đề nghị xét tặng phải bảo đảm:
- Không vi phạm quy định về liêm chính nghiên cứu;
- Không vi phạm đạo đức khoa học;
- Không vi phạm quyền tác giả;
- Không có tranh chấp, khiếu nại hoặc kết luận vi phạm liên quan đến công trình đề nghị xét tặng tại thời điểm nộp hồ sơ.
Đồng thời, khoản 2 Điều 9 Quy chế quy định nhà khoa học phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của hồ sơ và việc tuân thủ các quy định về liêm chính nghiên cứu, đạo đức khoa học, quyền tác giả.
Tóm lại, nhà khoa học phải đáp ứng đầy đủ 06 nhóm tiêu chuẩn nêu trên để được xem xét trao Giải thưởng Tạ Quang Bửu.
2. Nguyên tắc đánh giá kết quả nghiên cứu để xét tặng Giải thưởng
2.1. Đánh giá tính mới, tính sáng tạo và giá trị khoa học của công trình
Khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 10 Quy chế ban hành kèm Thông tư 50/2026/TT-BKHCN quy định việc xét tặng được thực hiện thông qua đánh giá kết quả nghiên cứu trong hồ sơ đề nghị.
Trong đó, việc đánh giá kết quả nghiên cứu cơ bản phải xem xét:
- Tính mới;
- Tính sáng tạo;
- Ý nghĩa và giá trị khoa học;
- Đóng góp của kết quả nghiên cứu đối với phát triển tri thức, thúc đẩy tiến bộ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo;
- Tác động tích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội.
Đây là những tiêu chí được sử dụng để đánh giá chất lượng và giá trị của kết quả nghiên cứu.
2.2. Đánh giá vai trò của nhà khoa học đối với kết quả nghiên cứu
Điểm b khoản 2 Điều 10 Quy chế ban hành kèm Thông tư 50/2026/TT-BKHCN quy định tiêu chuẩn đánh giá còn bao gồm:
“Vai trò và mức độ đóng góp của nhà khoa học đối với kết quả nghiên cứu được công bố trong các bài báo khoa học quốc tế.”
Quá trình xét tặng phải đánh giá vai trò và mức độ đóng góp của nhà khoa học đối với kết quả nghiên cứu đã công bố.
Nội dung này gắn với yêu cầu tại khoản 3 Điều 8 về việc nhà khoa học phải chứng minh được đóng góp quan trọng, mang tính quyết định đối với kết quả nghiên cứu.
2.3. Xếp hạng và chỉ số tác động của tạp chí có quyết định kết quả xét tặng không?
Khoản 3 Điều 10 Quy chế ban hành kèm Thông tư 50/2026/TT-BKHCN quy định:
“Chất lượng, uy tín, các chỉ số tác động và xếp hạng quốc tế của tạp chí khoa học đăng tải kết quả nghiên cứu là thông tin tham khảo trong quá trình xét chọn Giải thưởng.”
Như vậy, chất lượng, uy tín, chỉ số tác động và xếp hạng quốc tế của tạp chí khoa học chỉ là thông tin tham khảo, không phải tiêu chí duy nhất quyết định kết quả xét tặng. Bên cạnh đó, khoản 4 Điều 10 Quy chế yêu cầu quá trình xét tặng phải bảo đảm công khai, khách quan, minh bạch và lấy chất lượng khoa học làm tiêu chí quyết định.
2.4. Không bắt buộc trao đủ số lượng Giải thưởng trong mỗi kỳ xét tặng
Khoản 5 và khoản 6 Điều 10 Quy chế ban hành kèm Thông tư 50/2026/TT-BKHCN quy định:
- Không bắt buộc mỗi kỳ xét tặng phải có giải ở tất cả các lĩnh vực;
- Không bắt buộc phải trao đủ số lượng Giải thưởng tối đa;
- Không xét tặng đối với trường hợp không đáp ứng tiêu chuẩn tại Điều 8.
Như vậy, việc trao Giải thưởng phụ thuộc vào kết quả đánh giá chất lượng khoa học và mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn của từng hồ sơ, không phụ thuộc vào yêu cầu phải trao đủ số lượng giải.
3. Điều kiện xét tặng Giải thưởng chính và Giải thưởng dành cho nhà khoa học trẻ
3.1. Nhà khoa học trẻ phải dưới 35 tuổi khi kết thúc nhận hồ sơ
Điều 5 Quy chế ban hành kèm Thông tư 50/2026/TT-BKHCN quy định:
“Mỗi lĩnh vực quy định tại Điều 3 của Quy chế này được xét trao thưởng tối đa 01 Giải thưởng chính và 01 Giải thưởng dành cho nhà khoa học trẻ dưới ba mươi lăm (35) tuổi tính đến thời điểm kết thúc thời hạn nhận hồ sơ.”
Theo đó, mỗi lĩnh vực có thể xét trao:
- Tối đa 01 Giải thưởng chính;
- Tối đa 01 Giải thưởng dành cho nhà khoa học trẻ.
Riêng đối với Giải thưởng dành cho nhà khoa học trẻ, nhà khoa học phải dưới 35 tuổi tính đến thời điểm kết thúc thời hạn nhận hồ sơ.
3.2. Hồ sơ tham gia xét tặng được tiếp nhận trong thời hạn 3 tháng
Khoản 1 Điều 12 Quy chế ban hành kèm Thông tư 50/2026/TT-BKHCN quy định kế hoạch xét tặng Giải thưởng được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Khoa học và Công nghệ và Cơ quan thường trực Giải thưởng. Kế hoạch phải nêu rõ trình tự, thủ tục, thành phần hồ sơ và thời hạn nộp hồ sơ.
Khoản 2 Điều 12 Quy chế quy định:
“Thời hạn tiếp nhận hồ sơ là ba (03) tháng kể từ ngày công bố kế hoạch xét tặng Giải thưởng. Trong thời hạn tiếp nhận hồ sơ, tổ chức, cá nhân có quyền rút, thay thế hoặc bổ sung hồ sơ. Hồ sơ nộp sau thời hạn quy định không được xem xét trong kỳ xét tặng tương ứng.”
Theo đó:
- Thời hạn tiếp nhận hồ sơ là 03 tháng kể từ ngày công bố kế hoạch xét tặng;
- Trong thời gian tiếp nhận, tổ chức, cá nhân được rút, thay thế hoặc bổ sung hồ sơ;
- Hồ sơ nộp quá hạn không được xem xét trong kỳ xét tặng tương ứng.
Đồng thời, khoản 4 Điều 12 Quy chế quy định nếu hồ sơ không hợp lệ, Cơ quan thường trực Giải thưởng phải thông báo đến tổ chức, cá nhân đề cử hoặc cá nhân ứng cử trong 07 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc thời hạn tiếp nhận hồ sơ.
3.3. Hồ sơ được đánh giá qua hai cấp Hội đồng
Khoản 1 Điều 13 Quy chế ban hành kèm Thông tư 50/2026/TT-BKHCN quy định việc đánh giá hồ sơ được thực hiện qua hai cấp Hội đồng trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày kết thúc nộp hồ sơ, gồm:
- Hội đồng khoa học lĩnh vực;
- Hội đồng xét tặng Giải thưởng.
Theo khoản 4 Điều 13, kết quả đánh giá của Hội đồng khoa học lĩnh vực là cơ sở để Hội đồng xét tặng Giải thưởng xem xét, lựa chọn. Cụ thể, quy định Hội đồng khoa học lĩnh vực có nhiệm vụ xem xét tính phù hợp chuyên môn, đề xuất chuyên gia tư vấn độc lập, đánh giá hồ sơ và đề xuất danh sách ứng viên.
Sau đó, Hội đồng xét tặng Giải thưởng xem xét kết quả đánh giá, kiến nghị của các Hội đồng khoa học lĩnh vực để lựa chọn nhà khoa học đủ điều kiện, đề nghị Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quyết định trao tặng.
3.4. Mức thưởng và quyền lợi của nhà khoa học đạt Giải thưởng
Điểm a khoản 3 Điều 7 Quy chế ban hành kèm Thông tư 50/2026/TT-BKHCN quy định:
| Loại giải thưởng | Mức tiền thưởng |
| Giải thưởng chính | 200 triệu đồng/giải |
| Giải thưởng dành cho nhà khoa học trẻ | 100 triệu đồng/giải |
Bên cạnh tiền thưởng, khoản 1 Điều 6 Quy chế quy định nhà khoa học được trao Giải thưởng còn có quyền:
- Nhận Bằng chứng nhận Giải thưởng;
- Được mời tham dự Lễ trao Giải thưởng;
- Hưởng các quyền lợi khác, nếu có, theo Quy chế xét tặng Giải thưởng.
Trên đây là thông tin về tiêu chuẩn xét tặng Giải thưởng Tạ Quang Bửu theo Thông tư 50/2026/TT-BKHCN. Vui lòng xem chi tiết văn bản trên LuatVietnam.vn để cập nhật tình trạng hiệu lực, nội dung Quy chế và các biểu mẫu liên quan.
RSS