Nghị định 287/2026/NĐ-CP quy định khung tiền bản quyền đối với việc sử dụng tác phẩm để xuất bản, trong đó mức tiền bản quyền phụ thuộc vào thể loại sách và phương thức xuất bản. Vậy tiền bản quyền đối với sách được tính như thế nào, sách in và sách điện tử có cách tính khác nhau không?
- 1. Tiền bản quyền đối với sách được tính như thế nào?
- 2. Tỷ lệ tiền bản quyền đối với từng loại sách là bao nhiêu?
- 3. Tiền bản quyền đối với sách in được xác định ra sao?
- 4. Tiền bản quyền đối với sách điện tử được tính thế nào?
- 5. Trường hợp nào được hưởng thêm tiền bản quyền khuyến khích?
- 6. Tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm để xuất bản có áp dụng công thức trên không?
1. Tiền bản quyền đối với sách được tính như thế nào?

Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 17 Nghị định 287/2026/NĐ-CP, tiền bản quyền đối với việc sử dụng tác phẩm để xuất bản được xác định theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với từng thể loại. Với sách in, tiền bản quyền được tính theo giá thành sản xuất và số lượng in; với sách điện tử, tiền bản quyền được tính theo giá thành sản xuất và số năm sử dụng.
Cụ thể, khoản 3 Điều 17 quy định phương thức tính như sau:
Đối với xuất bản phẩm in:
Tiền bản quyền = Tỷ lệ phần trăm (%) × Giá thành sản xuất × Số lượng in
Trong đó:
- Tỷ lệ phần trăm (%) là tỷ lệ trả tiền bản quyền theo khung;
- Giá thành sản xuất là tổng chi phí sản xuất của xuất bản phẩm in, bao gồm chi phí xuất bản, chi phí in, chi phí phát hành;
- Số lượng in là số lượng ghi trong hợp đồng sáng tạo, sử dụng tác phẩm và được in thông tin trên sách.
Đối với xuất bản phẩm điện tử:
Tiền bản quyền = Tỷ lệ phần trăm (%) × Giá thành sản xuất × Số năm sử dụng
Trong đó:
- Tỷ lệ phần trăm (%) là tỷ lệ trả tiền bản quyền theo khung;
- Giá thành sản xuất là tổng chi phí sản xuất của xuất bản phẩm điện tử, không bao gồm chi phí phát hành, đăng tải trên các nền tảng công nghệ, hệ thống Cổng thông tin điện tử;
- Số năm sử dụng là thời hạn sử dụng quyền tác giả theo thời gian triển khai của chương trình, đề án hoặc do các bên thỏa thuận được ghi trong hợp đồng sáng tạo, sử dụng tác phẩm.
Như vậy, cùng là sử dụng tác phẩm để xuất bản nhưng sách in tính tiền bản quyền theo số lượng in, còn sách điện tử tính theo số năm sử dụng.
2. Tỷ lệ tiền bản quyền đối với từng loại sách là bao nhiêu?
Khoản 2 Điều 17 Nghị định 287/2026/NĐ-CP quy định tỷ lệ phần trăm tiền bản quyền theo từng thể loại tác phẩm. Mức áp dụng cụ thể như sau:
|
Thể loại |
Tỷ lệ tiền bản quyền |
|
Văn xuôi |
8% - 17% |
|
Sách nhạc |
10% - 17% |
|
Thơ |
12% - 17% |
|
Kịch bản sân khấu, điện ảnh |
12% - 17% |
|
Sách tranh, sách ảnh |
8% - 12% |
|
Truyện tranh |
4% - 10% |
|
Từ điển, sách tra cứu |
12% - 18% |
|
Sách nghiên cứu lý luận về chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục |
12% - 18% |
|
Sách khoa học - công nghệ, kỹ thuật, kinh tế, công trình khoa học |
10% - 17% |
|
Sách phổ biến kiến thức về chính trị, văn hóa - xã hội, giáo dục, khoa học - công nghệ |
8% - 12% |
|
Giáo trình bậc sau đại học, đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, sách phương pháp cho giáo viên và phụ huynh |
8% - 16% |
|
Sách bài học, sách chương trình mục tiêu theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo (sách giáo khoa) |
0,1% - 10% |
|
Sách bài tập, sách vở bài tập, sách tham khảo phổ thông theo chương trình sách giáo khoa |
2% - 12% |
|
Bản đồ |
7% - 23% |
Trong số các nhóm nêu trên, khung tỷ lệ khác nhau tùy từng thể loại. Chẳng hạn, văn xuôi áp dụng mức từ 8% - 17%; từ điển, sách tra cứu từ 12% - 18%; giáo trình từ 8% - 16%; sách giáo khoa từ 0,1% - 10%.
Tỷ lệ phần trăm này là một trong các thành phần để tính tiền bản quyền theo công thức dành cho xuất bản phẩm in hoặc xuất bản phẩm điện tử tại khoản 3 Điều 17.
3. Tiền bản quyền đối với sách in được xác định ra sao?
Đối với sách in, điểm a khoản 3 Điều 17 Nghị định 287/2026/NĐ-CP xác định công thức:
Tiền bản quyền = Tỷ lệ phần trăm (%) × Giá thành sản xuất × Số lượng in.
Trong công thức này, giá thành sản xuất bao gồm:
- Chi phí xuất bản;
- Chi phí in;
- Chi phí phát hành.
Số lượng in được xác định là số lượng ghi trong hợp đồng sáng tạo, sử dụng tác phẩm và được in thông tin trên sách.
Ví dụ, nếu một tác phẩm văn xuôi được áp dụng tỷ lệ tiền bản quyền 10%, giá thành sản xuất được xác định theo quy định là 50.000 đồng/bản và số lượng in là 1.000 bản thì tiền bản quyền tương ứng được xác định theo công thức:
10% × 50.000 đồng × 1.000 bản = 5.000.000 đồng.
Ví dụ này chỉ minh họa cách áp dụng công thức; tỷ lệ cụ thể trong từng trường hợp được xác định trong khung tương ứng với thể loại tác phẩm.
Ngoài tiền bản quyền, đối với xuất bản phẩm in, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả còn được nhận từ 05 đến 10 bản xuất bản phẩm (theo điểm a khoản 4 Điều 17 Nghị định 287/2026/NĐ-CP).
4. Tiền bản quyền đối với sách điện tử được tính thế nào?
Đối với xuất bản phẩm điện tử, cách tính không dựa vào số lượng bản như sách in mà căn cứ vào số năm sử dụng.
Điểm b khoản 3 Điều 17 Nghị định 287/2026/NĐ-CP quy định:
Tiền bản quyền = Tỷ lệ phần trăm (%) × Giá thành sản xuất × Số năm sử dụng.
Trong đó, giá thành sản xuất là tổng chi phí sản xuất của xuất bản phẩm điện tử, nhưng không bao gồm:
- Chi phí phát hành;
- Chi phí đăng tải trên các nền tảng công nghệ;
- Chi phí đăng tải trên hệ thống Cổng thông tin điện tử.
Số năm sử dụng là thời hạn sử dụng quyền tác giả theo thời gian triển khai của chương trình, đề án hoặc do các bên thỏa thuận và ghi trong hợp đồng sáng tạo, sử dụng tác phẩm. N
Đối với xuất bản phẩm điện tử, ngoài tiền bản quyền, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả còn được quyền truy cập, sử dụng xuất bản phẩm theo thỏa thuận trên các nền tảng, thiết bị điện tử (theo điểm b khoản 4 Điều 17).
5. Trường hợp nào được hưởng thêm tiền bản quyền khuyến khích?
Khoản 5 Điều 17 Nghị định 287/2026/NĐ-CP quy định đối với xuất bản phẩm thuộc các trường hợp được hưởng tiền bản quyền khuyến khích theo điểm a, điểm b khoản 3 Điều 3 thì ngoài tiền bản quyền thông thường còn được hưởng thêm từ 10% đến 30% tỷ lệ tiền bản quyền của xuất bản phẩm đó.
Các trường hợp được khoản 3 Điều 3 đề cập gồm, trong phạm vi liên quan:
- Tác phẩm thuộc đề tài về trẻ em, dân tộc thiểu số hoặc các trường hợp khác được Nghị định quy định;
- Tác giả là công dân Việt Nam sáng tạo, nói, viết trực tiếp bằng tiếng nước ngoài;
- Tác giả là người dân tộc Kinh sáng tạo, nói, viết trực tiếp bằng tiếng dân tộc thiểu số;
- Người dân tộc thiểu số sáng tạo, nói, viết trực tiếp bằng tiếng dân tộc thiểu số khác hoặc sáng tạo, nói, viết trong điều kiện khó khăn, nguy hiểm.
Mức tiền bản quyền khuyến khích đối với xuất bản phẩm được cộng thêm từ 10% đến 30% tỷ lệ tiền bản quyền.
6. Tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm để xuất bản có áp dụng công thức trên không?
Khoản 1 Điều 17 Nghị định 287/2026/NĐ-CP quy định riêng đối với tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm để xuất bản.
Theo đó, khoản tiền này được chi trả theo thỏa thuận bằng văn bản giữa cơ quan sử dụng ngân sách nhà nước để giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu với tác giả sáng tạo tác phẩm trên cơ sở:
- Thể loại, tính chất của đề tài và chất lượng đặt hàng tác giả;
- Phạm vi và đối tượng của chương trình, đề án;
- Thời hạn và phương thức sử dụng tác phẩm.
Do đó, công thức tại khoản 3 Điều 17 được quy định đối với tiền bản quyền sử dụng tác phẩm để xuất bản theo khoản 2 Điều này; còn trường hợp sáng tạo tác phẩm để xuất bản được chi trả theo thỏa thuận bằng văn bản dựa trên các tiêu chí nêu trên.
Trên đây là thông tin về “Tiền bản quyền đối với sách được tính như thế nào?” được trình bày theo Nghị định 287/2026/NĐ-CP. Mời bạn theo dõi LuatVietnam.vn để cập nhật thêm các quy định về đào tạo chuyên môn trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng.
RSS