Nghị định 287/2026/NĐ-CP quy định riêng về tiền bản quyền khi khai thác, sử dụng tác phẩm báo chí thuộc loại hình phát thanh, truyền hình, đồng thời xác định một số trường hợp không phải trả tiền bản quyền. Vậy trường hợp nào sử dụng tác phẩm phát thanh, truyền hình được miễn tiền bản quyền?
- 1. Trường hợp nào sử dụng tác phẩm phát thanh, truyền hình được miễn tiền bản quyền?
- 2. Trường hợp không được miễn thì tiền bản quyền phát thanh, truyền hình được xác định thế nào?
- 3. Phát thanh, truyền hình không có quảng cáo hoặc không thu tiền có được miễn bản quyền không?
- 4. Khai thác tác phẩm phát thanh, truyền hình từ lần thứ hai trả tiền bản quyền thế nào?
- 5. Quy định về tiền bản quyền phát thanh, truyền hình áp dụng từ khi nào?
1. Trường hợp nào sử dụng tác phẩm phát thanh, truyền hình được miễn tiền bản quyền?

Căn cứ theo khoản 4 Điều 16 Nghị định 287/2026/NĐ-CP:
“Trường hợp khai thác, sử dụng tác phẩm báo chí thuộc loại hình phát thanh, truyền hình mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan nhằm mục tiêu tuyên truyền không nhằm mục đích thương mại dành cho trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.”
Theo quy định này, trường hợp được miễn tiền bản quyền gắn với đầy đủ các nội dung gồm:
- Tác phẩm được khai thác, sử dụng là tác phẩm báo chí thuộc loại hình phát thanh, truyền hình;
- Nhà nước là đại diện chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác phẩm;
- Việc khai thác, sử dụng nhằm mục tiêu tuyên truyền;
- Không nhằm mục đích thương mại;
- Hoạt động tuyên truyền dành cho trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.
Trong trường hợp này, bên khai thác, sử dụng không phải xin phép và không phải trả tiền bản quyền, nhưng vẫn phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.
2. Trường hợp không được miễn thì tiền bản quyền phát thanh, truyền hình được xác định thế nào?
Đối với trường hợp không thuộc diện miễn nêu trên, khoản 1 Điều 16 Nghị định 287/2026/NĐ-CP quy định tiền bản quyền do cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý hoặc tổ chức được phân cấp, ủy quyền thỏa thuận với tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng. Mức thỏa thuận không được thấp hơn khung chi trả quy định tại Điều này.
Đối với phát thanh, các thể loại được quy định gồm tin/bài thời sự, chương trình tư vấn, tọa đàm, tạp chí, phóng sự, giao lưu, tiểu phẩm, trò chơi phát thanh, chương trình phát thanh trực tiếp, ca múa nhạc, chương trình khoa giáo và thiếu nhi. Khung tỷ lệ tiền bản quyền tính trên chi phí sản xuất như sau:
- Chi phí sản xuất đến 10 triệu đồng: 10% chi phí sản xuất;
- Chi phí sản xuất từ 10 đến 100 triệu đồng: 8% chi phí sản xuất;
- Chi phí sản xuất trên 100 triệu đồng: 5% chi phí sản xuất.
Đối với truyền hình, các thể loại gồm tin/bài thời sự, phóng sự, ký sự, phim tài liệu, chương trình tạp chí, tọa đàm, giao lưu, tư vấn, trực tuyến, ca múa nhạc, chương trình khoa giáo và thiếu nhi. Khung tỷ lệ cũng được xác định theo mức chi phí sản xuất:
- Đến 10 triệu đồng: 10% chi phí sản xuất;
- Từ 10 đến 100 triệu đồng: 8% chi phí sản xuất;
- Trên 100 triệu đồng: 5% chi phí sản xuất.
3. Phát thanh, truyền hình không có quảng cáo hoặc không thu tiền có được miễn bản quyền không?
Nghị định 287/2026/NĐ-CP quy định riêng mức chi trả đối với trường hợp cơ quan báo chí khai thác, sử dụng tác phẩm nhưng không có nguồn thu từ tài trợ quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào.
Khoản 2 Điều 16 quy định:
“Trường hợp khai thác, sử dụng tác phẩm báo chí thuộc loại hình phát thanh, truyền hình mà cơ quan báo chí hoạt động phát thanh, hoạt động truyền hình thực hiện khai thác, sử dụng không có nguồn thu từ tài trợ quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào thì số tiền bản quyền chi trả bằng 30% khung chi trả quy định tại khoản 1 Điều này.”
Như vậy, trường hợp này vẫn phải trả tiền bản quyền, nhưng số tiền bản quyền bằng 30% khung chi trả áp dụng đối với phát thanh, truyền hình .
Đồng thời tại khoản 4 Điều 16 quy định:
“Trường hợp khai thác, sử dụng tác phẩm báo chí thuộc loại hình phát thanh, truyền hình mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan nhằm mục tiêu tuyên truyền không nhằm mục đích thương mại dành cho trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.”
Có thể thấy quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 16 có sự khác nhau về đáp ứng các điều kiện về tác phẩm mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, mục tiêu tuyên truyền, không nhằm mục đích thương mại và nhóm đối tượng được quy định thì không phải trả tiền bản quyền.
4. Khai thác tác phẩm phát thanh, truyền hình từ lần thứ hai trả tiền bản quyền thế nào?
Khoản 3 Điều 16 Nghị định 287/2026/NĐ-CP quy định:
“Trường hợp khai thác, sử dụng tác phẩm báo chí thuộc loại hình phát thanh, truyền hình từ lần thứ hai trở đi thì tiền bản quyền được chi trả theo thỏa thuận với cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý hoặc tổ chức được phân cấp hoặc ủy quyền theo quy định của pháp luật trên cơ sở tiêu chí về tần suất sử dụng, thời lượng, khung giờ, phương tiện, nền tảng khai thác, sử dụng, doanh thu (nếu có) hoặc tiêu chí khác.”
Theo đó, từ lần khai thác, sử dụng thứ hai trở đi, mức tiền bản quyền được thỏa thuận dựa trên các tiêu chí:
- Tần suất sử dụng;
- Thời lượng;
- Khung giờ;
- Phương tiện khai thác, sử dụng;
- Nền tảng khai thác, sử dụng;
- Doanh thu, nếu có;
- Tiêu chí khác.
Quy định này áp dụng cho việc xác định tiền bản quyền từ lần sử dụng thứ hai trở đi, trừ trường hợp thuộc diện không phải trả tiền bản quyền.
5. Quy định về tiền bản quyền phát thanh, truyền hình áp dụng từ khi nào?
Nghị định 287/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/9/2026. Đồng thời, kể từ ngày này, Nghị định 18/2014/NĐ-CP quy định về chế độ nhuận bút trong lĩnh vực báo chí, xuất bản hết hiệu lực thi hành.
Đối với trường hợp khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý xảy ra trước ngày Nghị định 287/2026/NĐ-CP có hiệu lực, việc thực hiện tiếp tục theo văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực tại thời điểm khai thác, sử dụng hoặc theo thỏa thuận trong hợp đồng đã giao kết giữa các bên.
Trên đây là thông tin về “Trường hợp nào sử dụng tác phẩm phát thanh, truyền hình được miễn tiền bản quyền?” được trình bày theo Nghị định 287/2026/NĐ-CP. Mời bạn theo dõi LuatVietnam.vn để cập nhật thêm các quy định về đào tạo chuyên môn trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng.
RSS