Thông tư 40/2026/TT-NHNN quy định cụ thể về hạn chế, giới hạn cho vay đối với các nhóm khách hàng của quỹ tín dụng nhân dân, trong đó có thành viên là pháp nhân. Vậy quỹ tín dụng nhân dân được cho thành viên là pháp nhân vay tối đa bao nhiêu? Việc xác định giới hạn cho vay được thực hiện như thế nào?
- 1. Giới hạn cho vay đối với thành viên là pháp nhân của quỹ tín dụng nhân dân
- 1.1. Mức cho vay tối đa được xác định theo vốn góp và số dư tiền gửi
- 1.2. Giới hạn dư nợ cho vay phải được bảo đảm tại mọi thời điểm
- 2. Quy định về giới hạn cho vay đối với các nhóm khách hàng khác
- 2.1. Khách hàng không phải là thành viên được vay trong phạm vi số dư tiền gửi
- 2.2. Các trường hợp không áp dụng giới hạn cho vay đối với một khách hàng và người có liên quan
- 3. Trách nhiệm quản lý các khoản cho vay của quỹ tín dụng nhân dân
- 3.1. Xây dựng quy định nội bộ về giới hạn cho vay
- 3.2. Theo dõi các khoản cho vay và giới hạn an toàn thông qua hệ thống công nghệ thông tin

1. Giới hạn cho vay đối với thành viên là pháp nhân của quỹ tín dụng nhân dân
1.1. Mức cho vay tối đa được xác định theo vốn góp và số dư tiền gửi
Khoản 4 Điều 12 Thông tư 40/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định:
“Tổng mức dư nợ cho vay đối với một thành viên là pháp nhân không được vượt quá tổng số vốn góp và số dư tiền gửi của pháp nhân đó tại quỹ tín dụng nhân dân tại mọi thời điểm.”
Theo quy định này, giới hạn cho vay đối với một thành viên là pháp nhân được xác định dựa trên hai khoản:
- Số vốn góp: Phần vốn mà pháp nhân đã góp tại quỹ tín dụng nhân dân.
- Số dư tiền gửi: Số tiền gửi của chính pháp nhân đó tại quỹ tín dụng nhân dân.
Có thể thấy, Thông tư 40/2026 không ấn định một mức cho vay tối đa bằng số tiền cụ thể áp dụng chung cho tất cả thành viên là pháp nhân. Thay vào đó, giới hạn được xác định theo tổng số vốn góp và số dư tiền gửi của từng pháp nhân tại quỹ.
Có thể thể hiện giới hạn này như sau:
Tổng dư nợ cho vay đối với một thành viên là pháp nhân ≤ Số vốn góp + Số dư tiền gửi của pháp nhân đó tại quỹ tín dụng nhân dân.
Khoản 4 Điều 12 Thông tư yêu cầu duy trì giới hạn này tại mọi thời điểm. Do đó, khi xác định dư nợ cho vay đối với thành viên là pháp nhân, quỹ tín dụng nhân dân phải đối chiếu với tổng số vốn góp và số dư tiền gửi tương ứng.
1.2. Giới hạn dư nợ cho vay phải được bảo đảm tại mọi thời điểm
Khoản 4 Điều 12 Thông tư 40/2026/TT-NHNN quy định:
“Tổng mức dư nợ cho vay đối với một thành viên là pháp nhân không được vượt quá tổng số vốn góp và số dư tiền gửi của pháp nhân đó tại quỹ tín dụng nhân dân tại mọi thời điểm.”
Giới hạn dư nợ cho vay phải được bảo đảm tại mọi thời điểm, không chỉ tại thời điểm quỹ tín dụng nhân dân xem xét, quyết định cho vay. Theo đó, việc xác định giới hạn cho vay phải căn cứ vào tổng số vốn góp và số dư tiền gửi thực tế của pháp nhân tại quỹ tín dụng nhân dân.
Trường hợp số dư tiền gửi của pháp nhân thay đổi thì giới hạn dư nợ cho vay được xác định tương ứng với tổng số vốn góp và số dư tiền gửi tại thời điểm đó. Như vậy, quỹ tín dụng nhân dân phải theo dõi tổng dư nợ cho vay đối với từng thành viên là pháp nhân, bảo đảm không vượt quá tổng số vốn góp và số dư tiền gửi của chính pháp nhân đó tại quỹ trong suốt quá trình cho vay.
2. Quy định về giới hạn cho vay đối với các nhóm khách hàng khác
2.1. Khách hàng không phải là thành viên được vay trong phạm vi số dư tiền gửi
Khoản 5 Điều 12 Thông tư 40/2026/TT-NHNN quy định:
“Tổng mức dư nợ cho vay đối với khách hàng là pháp nhân, cá nhân không phải là thành viên không được vượt quá số dư của hợp đồng tiền gửi, sổ tiết kiệm tại mọi thời điểm.”
Theo đó, đối với pháp nhân, cá nhân không phải là thành viên, tổng dư nợ cho vay không được vượt quá số dư của hợp đồng tiền gửi hoặc sổ tiết kiệm.
Như vậy, khi xác định giới hạn cho vay, Thông tư có sự phân biệt giữa hai nhóm khách hàng:
- Thành viên là pháp nhân: Giới hạn được xác định theo tổng số vốn góp và số dư tiền gửi của pháp nhân tại quỹ tín dụng nhân dân.
- Pháp nhân, cá nhân không phải là thành viên: Giới hạn được xác định theo số dư của hợp đồng tiền gửi, sổ tiết kiệm.
Điểm khác biệt là đối với thành viên là pháp nhân, khoản 4 Điều 12 cho phép tính cả số vốn góp và số dư tiền gửi để xác định giới hạn dư nợ cho vay.
2.2. Các trường hợp không áp dụng giới hạn cho vay đối với một khách hàng và người có liên quan
Khoản 1 Điều 12 Thông tư 40/2026/TT-NHNN quy định quỹ tín dụng nhân dân căn cứ vốn tự có tại cuối ngày làm việc gần nhất để xác định:
“a) Hạn chế cho vay đối với tổ chức, cá nhân theo quy định tại Điều 135 Luật Các tổ chức tín dụng;
b) Giới hạn cho vay đối với một khách hàng, một khách hàng và người có liên quan của khách hàng theo quy định tại Điều 136 Luật Các tổ chức tín dụng.”
Tuy nhiên, khoản 6 Điều 12 Thông tư 40/2026/TT-NHNN quy định:
“Các giới hạn quy định tại điểm b khoản 1 Điều này không áp dụng đối với:
a) Khoản cho vay từ nguồn vốn ủy thác của tổ chức, cá nhân mà quỹ tín dụng nhân dân nhận ủy thác không chịu rủi ro;
b) Các khoản cho vay được bảo đảm toàn bộ bằng tiền gửi tại chính quỹ tín dụng nhân dân.”
Tóm lại, hai trường hợp trên không phải áp dụng các giới hạn cho vay quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12, tức giới hạn đối với một khách hàng, một khách hàng và người có liên quan theo Điều 136 Luật Các tổ chức tín dụng.
3. Trách nhiệm quản lý các khoản cho vay của quỹ tín dụng nhân dân
3.1. Xây dựng quy định nội bộ về giới hạn cho vay
Khoản 1 Điều 5 Thông tư 40/2026/TT-NHNN yêu cầu quỹ tín dụng nhân dân phải có quy định nội bộ về cho vay, quản lý khoản cho vay theo quy định của Thông tư và pháp luật có liên quan.
Trong đó, điểm b và điểm c khoản 5 Điều 5 yêu cầu quy định nội bộ phải có các nội dung:
“b) Các hạn chế, giới hạn cho vay áp dụng đối với khách hàng, khách hàng và người có liên quan, cơ chế, nguyên tắc phân cấp, ủy quyền cho vay đối với khách hàng, khách hàng và người có liên quan;
c) Giới hạn cho vay tối đa trong tổng dư nợ cho vay đối với từng loại khách hàng là thành viên, khách hàng không phải là thành viên và khách hàng là thành viên của hộ nghèo của quỹ tín dụng nhân dân;”
Theo đó, quy định nội bộ của quỹ tín dụng nhân dân phải xác định rõ giới hạn cho vay đối với từng nhóm khách hàng, bao gồm cả thành viên và khách hàng không phải là thành viên.
Ngoài ra, điểm d khoản 5 Điều 5 yêu cầu quy định nội bộ phải có quy trình thẩm định, phê duyệt, quyết định và theo dõi đối với các khoản cho vay vượt quá 5% vốn tự có và các khoản cho vay không có bảo đảm bằng tài sản. Theo khoản 2 Điều 5 Thông tư, các văn bản quy định nội bộ và văn bản sửa đổi, bổ sung phải do Hội đồng quản trị quỹ tín dụng nhân dân ban hành.
3.2. Theo dõi các khoản cho vay và giới hạn an toàn thông qua hệ thống công nghệ thông tin
Điều 4 Thông tư 40/2026/TT-NHNN quy định quỹ tín dụng nhân dân phải có hệ thống công nghệ thông tin để thực hiện các yêu cầu về quản lý an toàn trong hoạt động.
Cụ thể, khoản 1 và khoản 2 Điều 4 yêu cầu hệ thống phải đáp ứng những nội dung như:
- Lưu giữ, truy cập, bổ sung cơ sở dữ liệu về khách hàng và bảo đảm quản lý rủi ro;
- Thống kê, theo dõi các khoản mục vốn, tài sản, nợ phải trả;
- Tính toán, quản lý, giám sát các hạn chế, giới hạn và tỷ lệ bảo đảm an toàn theo Thông tư.
Bên cạnh đó, khoản 6 Điều 5 yêu cầu quỹ tín dụng nhân dân rà soát, đánh giá lại, sửa đổi, bổ sung quy định nội bộ định kỳ ít nhất 01 năm một lần và khi cần thiết, bảo đảm phù hợp với yêu cầu an toàn trong hoạt động.
Trên đây là thông tin về quỹ tín dụng nhân dân được cho thành viên là pháp nhân vay. Vui lòng xem chi tiết Thông tư 40/2026/TT-NHNN trên LuatVietnam.vn và các tính năng liên quan như: Tình trạng hiệu lực, Lược đồ...
RSS