Nghị định 314/2026/NĐ-CP quy định hình thức khởi tạo, xác lập giao dịch và các trường hợp tạm ngừng giao dịch trên sàn dữ liệu. Vậy người mua có thể khởi tạo giao dịch trên sàn dữ liệu bằng những hình thức nào?
- 1. Người mua có thể khởi tạo giao dịch trên sàn dữ liệu bằng những hình thức nào?
- 2. Khởi tạo giao dịch bằng hình thức đấu giá được thực hiện thế nào?
- 2.1. Chủ thể tổ chức và phương thức đấu giá
- 2.2. Quy chế cuộc đấu giá và việc xác thực người tham gia
- 2.3. Dữ liệu nào không được đưa ra đấu giá?
- 3. Việc đề nghị và xác lập giao dịch được ghi nhận ra sao?
- 4. Giao dịch có thể bị tạm ngừng trong những trường hợp nào?
1. Người mua có thể khởi tạo giao dịch trên sàn dữ liệu bằng những hình thức nào?
Theo khoản 2 Điều 22 Nghị định 314/2026/NĐ-CP, người mua có thể khởi tạo giao dịch bằng ba hình thức: đặt lệnh mua trực tiếp, gửi đề nghị giao dịch để đàm phán hoặc đấu giá. Việc đặt lệnh mua trực tiếp áp dụng với dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu có giá niêm yết cố định; gửi đề nghị đàm phán áp dụng khi giá cả hoặc điều kiện khác có thể thương lượng.
Cụ thể, khoản này quy định:
- Đặt lệnh mua trực tiếp đối với dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu có giá niêm yết cố định;
- Gửi đề nghị giao dịch tới Bên bán để đàm phán về các điều khoản trong trường hợp giá cả hoặc các điều kiện khác có thể thương lượng;
- Đấu giá theo quy định tại Điều 11 Nghị định này.
Đối với hình thức đấu giá, Điều 11 quy định việc tổ chức đấu giá trực tuyến đối với quyền khai thác, sử dụng dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu hợp pháp được niêm yết trên sàn; phương thức đấu giá là trả giá lên hoặc đặt giá xuống tùy tính chất của đối tượng đấu giá.
Về thông tin phục vụ giao dịch, khoản 1 Điều 22 quy định bên mua được cung cấp thông tin chi tiết và kết quả kiểm tra, đánh giá, thẩm định của dữ liệu và các sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu được niêm yết trên sàn.
Trong quá trình tìm kiếm và đàm phán, điểm a và điểm b khoản 1 Điều 7 xác định dịch vụ trung gian dữ liệu bao gồm hoạt động kết nối nhu cầu giữa bên bán và bên mua; hỗ trợ các bên tìm kiếm, tiếp cận, đàm phán, giao kết và thực hiện giao dịch.

2. Khởi tạo giao dịch bằng hình thức đấu giá được thực hiện thế nào?
2.1. Chủ thể tổ chức và phương thức đấu giá
Căn cứ khoản 1 Điều 11 Nghị định 314/2026/NĐ-CP, tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu được tổ chức đấu giá đối với quyền khai thác, sử dụng dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu hợp pháp được niêm yết trên sàn theo một trong các phương thức:
- Tự tổ chức đấu giá theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản;
- Ký kết hợp đồng dịch vụ với tổ chức hành nghề đấu giá tài sản đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản để thực hiện đấu giá trên hạ tầng kỹ thuật của sàn dữ liệu.
Về đối tượng và cách thức thực hiện, khoản 2 Điều 11 quy định:
“Dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu được đấu giá theo quy định tại Điều này là tài sản đấu giá không thuộc trường hợp pháp luật bắt buộc phải đấu giá; trình tự, thủ tục đấu giá thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản.”
Cũng theo khoản này, việc đấu giá được thực hiện bằng hình thức đấu giá trực tuyến, áp dụng phương thức trả giá lên hoặc phương thức đặt giá xuống tùy theo tính chất của từng loại dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu được đấu giá.
2.2. Quy chế cuộc đấu giá và việc xác thực người tham gia
Về quy chế, khoản 3 Điều 11 yêu cầu tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu hoặc tổ chức hành nghề đấu giá tài sản được ủy quyền ban hành Quy chế cuộc đấu giá trước ngày niêm yết việc đấu giá.
Ngoài nội dung theo pháp luật về đấu giá tài sản, Quy chế phải quy định:
- Mô tả dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ đưa ra đấu giá, gồm tên gọi, định dạng, khối lượng, thông số kỹ thuật, phạm vi quyền khai thác, sử dụng được chuyển giao, điều kiện chuyển nhượng lại quyền khai thác và hạn chế kèm theo nếu có;
- Điều kiện tham gia đấu giá, quyền và nghĩa vụ của các bên;
- Cơ chế tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tranh chấp phát sinh từ cuộc đấu giá.
Đối với người tham gia, khoản 5 Điều 11 giao tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu hoặc tổ chức hành nghề đấu giá tài sản được ủy quyền xác thực năng lực pháp lý, tư cách người tham gia; quản lý tiền đặt trước và hoàn trả hoặc xử lý khoản tiền này theo kết quả đấu giá.
Sau cuộc đấu giá, các tổ chức này thông báo kết quả cho các bên liên quan, hỗ trợ ký kết hợp đồng cấp phép quyền khai thác, sử dụng dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu.
2.3. Dữ liệu nào không được đưa ra đấu giá?
Theo khoản 6 Điều 11, dữ liệu cá nhân không được đưa ra đấu giá trên sàn dữ liệu.
Dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu có nguồn gốc từ dữ liệu cá nhân chỉ được đấu giá khi đáp ứng điều kiện về khử nhận dạng và các yêu cầu khác theo pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Khoản này yêu cầu tổ chức cung cấp dịch vụ đấu giá từ chối tổ chức đấu giá đối với dữ liệu cá nhân, dữ liệu chưa được phép giao dịch hoặc dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu có dấu hiệu vi phạm pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
3. Việc đề nghị và xác lập giao dịch được ghi nhận ra sao?
Về quá trình xác lập giao dịch, khoản 3 Điều 22 Nghị định 314/2026/NĐ-CP quy định việc đề nghị, chấp nhận đề nghị, sửa đổi, rút lại, hủy bỏ, chấm dứt đề nghị giao dịch và xác định thời điểm giao dịch, hiệu lực hợp đồng điện tử thực hiện theo pháp luật về dân sự, giao dịch điện tử và thỏa thuận hợp pháp của các bên.
Tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu phải ghi nhận, lưu trữ đầy đủ thông điệp dữ liệu, thời điểm gửi, nhận và thao tác xác nhận của các bên để phục vụ đối soát, truy vết, giải quyết tranh chấp.
Đối với hình thức hợp đồng, khoản 1 Điều 23 yêu cầu giao dịch mua bán, trao đổi sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu trên sàn phải được xác lập thông qua hợp đồng điện tử, được giao kết và thực hiện qua hệ thống thông tin của sàn.
Về hiệu lực, khoản 3 Điều 23 quy định hợp đồng điện tử chỉ có hiệu lực khi có sự chấp thuận của cả hai bên, thể hiện bằng một trong các phương thức do các bên lựa chọn tương ứng với tính chất, giá trị giao dịch:
- Chữ ký số công cộng;
- Chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn;
- Hình thức xác nhận khác bằng phương tiện điện tử do sàn triển khai và được quy định tại Quy chế hoạt động của sàn.
Các hình thức xác nhận khác phải xác định được chủ thể chấp thuận nội dung hợp đồng, ghi nhận thời điểm xác nhận và bảo đảm tính toàn vẹn của nội dung thông điệp dữ liệu kể từ thời điểm xác nhận.
4. Giao dịch có thể bị tạm ngừng trong những trường hợp nào?
Theo khoản 4 Điều 22 Nghị định 314/2026/NĐ-CP, tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu quyết định tạm ngừng giao dịch đối với dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu khi:
- Có dấu hiệu vi phạm về nguồn gốc, tính hợp pháp của dữ liệu đang được xác minh;
- Nhận được khiếu nại của bên mua về chất lượng dữ liệu không đúng cam kết và cần thời gian xác minh;
- Có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;
- Có nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội;
- Sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu có dấu hiệu vi phạm quy định về phân tích, tổng hợp dữ liệu.
Đối với hoạt động phân tích, tổng hợp dữ liệu, khoản 6 và khoản 7 Điều 7 yêu cầu công bố rõ sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng, không phải dữ liệu gốc; công bố thông tin cơ bản về phương pháp xử lý, nguồn dữ liệu đầu vào, tần suất cập nhật; sử dụng dữ liệu đầu vào đúng phạm vi quyền được cấp; bảo đảm tính hợp pháp, chất lượng và không gây hiểu nhầm về bản chất, nguồn gốc, phạm vi, mức độ chính xác.
Về thời hạn, khoản 5 Điều 22 yêu cầu tạm ngừng giao dịch trong thời gian sớm nhất nhưng không quá 24 giờ kể từ thời điểm phát hiện hoặc nhận được thông tin có căn cứ thuộc một trong các trường hợp trên.
Trong 05 ngày làm việc kể từ ngày tạm ngừng, tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu phải hoàn thành xem xét, xác minh và quyết định khôi phục giao dịch hoặc áp dụng biện pháp theo Nghị định và Quy chế hoạt động của sàn. Trường hợp phức tạp, có thể gia hạn thời gian xác minh nhưng không quá 05 ngày làm việc và phải thông báo cho các bên liên quan.
Trên đây là nội dung thông tin về “Người mua có thể khởi tạo giao dịch trên sàn dữ liệu bằng những hình thức nào?”. Bạn đọc có thể tham khảo thêm toàn văn, tình trạng hiệu lực của Nghị định 314/2026/NĐ-CP trên LuatVietnam.vn.
RSS