Nghị định 314/2026/NĐ-CP quy định việc định giá, công khai giá và chia sẻ doanh thu giữa các chủ thể tham gia sàn dữ liệu. Vậy giá dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu và doanh thu giao dịch trên sàn được xác định, phân chia như thế nào?
- 1. Giá dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu được xác định như thế nào?
- 1.1. Quyền tự định giá và trách nhiệm công khai giá
- 1.2. Cơ chế thu giá đối với sản phẩm, dịch vụ sử dụng thông tin từ cơ sở dữ liệu do cơ quan nhà nước quản lý
- 2. Doanh thu từ giao dịch trên sàn dữ liệu được phân chia ra sao?
- 3. Sàn dữ liệu cung cấp những dịch vụ hỗ trợ định giá nào?
- 4. Giá dịch vụ của tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu được quy định thế nào?
- 4.1. Quyền định giá và các loại giá dịch vụ
- 4.2. Thời điểm công khai và phạm vi áp dụng giá dịch vụ
1. Giá dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu được xác định như thế nào?
Theo Điều 6 Nghị định 314/2026/NĐ-CP, Bên bán và tổ chức cung cấp dịch vụ trung gian dữ liệu được tự định giá, điều chỉnh giá, trừ trường hợp thuộc diện Nhà nước định giá. Doanh thu giao dịch được chia sẻ theo thỏa thuận, căn cứ quyền, trách nhiệm và mức độ đóng góp của từng chủ thể; trường hợp liên quan đến cơ sở dữ liệu do cơ quan nhà nước quản lý hoặc tài sản công áp dụng quy định riêng.
1.1. Quyền tự định giá và trách nhiệm công khai giá
Căn cứ khoản 2 Điều 6 Nghị định 314/2026/NĐ-CP, Bên bán và tổ chức cung cấp dịch vụ trung gian dữ liệu trên sàn dữ liệu tự định giá và điều chỉnh giá đối với dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu cung ứng.
Các chủ thể này được xem xét áp dụng nguyên tắc, căn cứ, phương pháp định giá do Nhà nước quy định và thực hiện công khai, niêm yết giá theo quy định của pháp luật.
Trường hợp dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá thì thực hiện theo quy định của pháp luật về giá.
Đối với dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân, khoản 3 Điều 6 quy định việc giao dịch trên sàn dữ liệu thực hiện theo pháp luật về dân sự, pháp luật về giá và pháp luật khác có liên quan.
1.2. Cơ chế thu giá đối với sản phẩm, dịch vụ sử dụng thông tin từ cơ sở dữ liệu do cơ quan nhà nước quản lý
Về nhóm sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng, điểm a khoản 1 Điều 6 quy định sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu có giá trị gia tăng sử dụng thông tin từ cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin do bộ, ngành quản lý là sản phẩm, dịch vụ được hình thành trên cơ sở xử lý, phân tích, tổng hợp hoặc kết hợp dữ liệu nhằm tạo ra giá trị gia tăng so với dữ liệu ban đầu.
Sản phẩm, dịch vụ này được cung cấp theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân thông qua sàn dữ liệu, không bao gồm các dịch vụ thuộc đối tượng thu phí, lệ phí theo pháp luật về phí và lệ phí, được áp dụng cơ chế thu giá theo pháp luật về giá.
Về thẩm quyền ban hành giá, điểm b khoản 1 Điều 6 giao Bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan khác được Nhà nước giao quản lý cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin ban hành giá cụ thể, giá tối đa hoặc khung giá tùy theo tính chất của từng loại sản phẩm, dịch vụ nêu trên, bảo đảm phù hợp với pháp luật về giá.
Đối với việc xây dựng phương án giá, khoản 5 Điều 6 quy định các cơ quan này có trách nhiệm:
- Xây dựng phương án giá đối với dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu được hình thành từ cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin thuộc phạm vi quản lý;
- Lấy ý kiến Bộ Tài chính trước khi quyết định theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan, người có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật về giá.

2. Doanh thu từ giao dịch trên sàn dữ liệu được phân chia ra sao?
Về nguyên tắc chia sẻ doanh thu, khoản 4 Điều 6 Nghị định 314/2026/NĐ-CP quy định việc chia sẻ doanh thu từ hoạt động giao dịch dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu trên sàn được thực hiện theo thỏa thuận giữa:
- Bên bán;
- Tổ chức cung cấp dịch vụ trung gian dữ liệu trên sàn dữ liệu;
- Tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu;
- Các chủ thể có liên quan.
Việc thỏa thuận chia sẻ doanh thu căn cứ quyền, trách nhiệm và mức độ đóng góp của từng chủ thể, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Riêng đối với dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu được hình thành từ cơ sở dữ liệu do cơ quan nhà nước quản lý hoặc có liên quan đến tài sản công, khoản này quy định việc phân chia, quản lý và sử dụng doanh thu thực hiện theo pháp luật về ngân sách nhà nước, quản lý, sử dụng tài sản công và pháp luật khác có liên quan.
3. Sàn dữ liệu cung cấp những dịch vụ hỗ trợ định giá nào?
Bên cạnh quy định về quyền định giá, Điều 10 Nghị định 314/2026/NĐ-CP quy định các dịch vụ hỗ trợ xác định giá trị dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu trên sàn.
Theo khoản 1 Điều 10, dịch vụ hỗ trợ định giá bao gồm:
- Dịch vụ phân tích giá thị trường: Cung cấp thông tin, chỉ số và mức giá thị trường được phân tích, tổng hợp từ dữ liệu giao dịch thị trường và các thông số kỹ thuật của dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu;
- Dịch vụ kết nối thẩm định giá: Làm đầu mối trung gian tiếp nhận yêu cầu, kết nối tổ chức, cá nhân có nhu cầu xác định giá trị dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu với các doanh nghiệp thẩm định giá đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá theo quy định của pháp luật về giá.
Khi thực hiện các dịch vụ này, khoản 2 Điều 10 yêu cầu tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu có trách nhiệm:
- Xây dựng, vận hành và cập nhật thường xuyên hệ thống phân tích, tổng hợp dữ liệu thị trường phục vụ cung cấp thông tin giá thị trường;
- Niêm yết và cập nhật thường xuyên danh sách các doanh nghiệp thẩm định giá đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá theo quy định của pháp luật về giá trên hệ thống của sàn dữ liệu;
- Cung cấp môi trường kỹ thuật bảo mật để doanh nghiệp thẩm định giá tiếp cận, khảo sát và đánh giá dữ liệu mẫu hoặc thông số kỹ thuật của dữ liệu theo yêu cầu của khách hàng;
- Giám sát việc thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ giữa các bên, bảo đảm tuân thủ đúng cam kết và Quy chế hoạt động của sàn dữ liệu.
4. Giá dịch vụ của tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu được quy định thế nào?
4.1. Quyền định giá và các loại giá dịch vụ
Đối với dịch vụ do tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu cung cấp, khoản 1 Điều 27 Nghị định 314/2026/NĐ-CP cho phép tổ chức này tự định giá và điều chỉnh giá.
Tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu được xem xét áp dụng nguyên tắc, căn cứ, phương pháp định giá do Nhà nước quy định để xác định giá dịch vụ và có trách nhiệm công khai, niêm yết giá. Trường hợp dịch vụ sàn dữ liệu thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá thì thực hiện theo pháp luật về giá.
Về các loại giá dịch vụ, khoản 2 Điều 27 yêu cầu tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu xây dựng và ban hành:
- Giá dịch vụ đăng ký, duy trì tài khoản giao dịch trên sàn dữ liệu theo từng đối tượng tham gia;
- Giá dịch vụ niêm yết sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu trên sàn dữ liệu;
- Giá các dịch vụ khác do tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu cung cấp, nếu có.
4.2. Thời điểm công khai và phạm vi áp dụng giá dịch vụ
Về thời điểm công khai, khoản 3 Điều 27 yêu cầu giá dịch vụ phải được niêm yết công khai trên trang thông tin điện tử của sàn dữ liệu trước khi áp dụng. Khi có thay đổi, tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu phải cập nhật kịp thời.
Về phạm vi giá dịch vụ, quy định tại khoản 4 Điều 27 xác định giá dịch vụ của tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu không bao gồm giá hoặc phí đối với dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu giao dịch trên sàn.
Việc thu phí, giá đối với dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu được thực hiện theo Điều 6, gồm các nguyên tắc về tự định giá, công khai và niêm yết giá, trường hợp Nhà nước định giá và cơ chế thu giá đối với sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng sử dụng thông tin từ cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin do cơ quan nhà nước quản lý.
Trên đây là nội dung thông tin về “Giá dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu và doanh thu giao dịch trên sàn được xác định, phân chia như thế nào?” Bạn đọc có thể tham khảo thêm toàn văn và tình trạng hiệu lực của Nghị định 314/2026/NĐ-CP trên LuatVietnam.vn.
RSS