Nghị định 267/2026/NĐ-CP quy định việc xử lý trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó khi để xảy ra hành vi gây lãng phí trong phạm vi quản lý. Vậy người đứng đầu, cấp phó để xảy ra lãng phí tại cơ quan, đơn vị bị kỷ luật như thế nào?
- 1. Người đứng đầu, cấp phó để xảy ra lãng phí tại cơ quan, đơn vị bị kỷ luật như thế nào?
- 2. Phạm vi xử lý kỷ luật đối với người đứng đầu, cấp phó được xác định thế nào?
- 3. Đã bị kỷ luật Đảng hoặc chưa có quyết định kỷ luật Đảng thì xử lý thế nào?
- 4. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định như thế nào?
- 4.1. Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường
- 4.2. Trường hợp được miễn kỷ luật nhưng vẫn phát sinh nghĩa vụ bồi thường
1. Người đứng đầu, cấp phó để xảy ra lãng phí tại cơ quan, đơn vị bị kỷ luật như thế nào?
Căn cứ theo Điều 6 Nghị định 267/2026/NĐ-CP, người đứng đầu, cấp phó thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, quản lý để xảy ra hành vi gây lãng phí trong phạm vi được giao quản lý, phụ trách trực tiếp bị xem xét khiển trách, cảnh cáo hoặc cách chức.
Hình thức kỷ luật tương ứng với hình thức, mức hình phạt hình sự đối với hành vi gây lãng phí xảy ra trong phạm vi đó. Cụ thể, quy định về các trường hợp áp dụng từng hình thức kỷ luật như sau:
- Hình thức kỷ luật khiển trách được áp dụng trong trường hợp để xảy ra hành vi gây lãng phí bị xử lý hình sự bằng hình thức phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm.
- Hình thức kỷ luật cảnh cáo được áp dụng trong trường hợp để xảy ra hành vi gây lãng phí bị xử lý hình sự bằng hình thức phạt tù từ trên 03 năm đến 07 năm.
- Hình thức kỷ luật cách chức được áp dụng trong trường hợp để xảy ra hành vi gây lãng phí bị xử lý hình sự bằng hình thức phạt tù từ trên 07 năm đến 20 năm, chung thân hoặc tử hình.
Đối tượng được xem xét áp dụng các hình thức kỷ luật này được xác định trong câu dẫn của Điều 6 Nghị định 267/2026/NĐ-CP:
“Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, quản lý để xảy ra hành vi gây lãng phí ở cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, lĩnh vực thuộc thẩm quyền được giao quản lý, phụ trách trực tiếp bị xem xét áp dụng hình thức kỷ luật như sau:”

2. Phạm vi xử lý kỷ luật đối với người đứng đầu, cấp phó được xác định thế nào?
Theo điểm a khoản 1 Điều 3 Nghị định 267/2026/NĐ-CP, đối tượng bị xử lý kỷ luật bao gồm người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi gây lãng phí ở cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, lĩnh vực thuộc thẩm quyền được giao quản lý, phụ trách.
Khi áp dụng các hình thức kỷ luật, phạm vi trách nhiệm được xác định đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, lĩnh vực thuộc thẩm quyền được giao quản lý, phụ trách trực tiếp; đồng thời gắn với việc thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, quản lý của người đứng đầu, cấp phó.
Riêng việc xử lý kỷ luật đối với người quản lý doanh nghiệp nhà nước, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, kiểm soát viên thực hiện theo quy định riêng về quản lý người giữ chức danh, chức vụ và người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, căn cứ khoản 3 Điều 1 Nghị định 267/2026/NĐ-CP.
3. Đã bị kỷ luật Đảng hoặc chưa có quyết định kỷ luật Đảng thì xử lý thế nào?
Việc áp dụng hình thức kỷ luật đối với trường hợp đã có hoặc chưa có quyết định xử lý kỷ luật về Đảng được quy định tại Điều 5 Nghị định 267/2026/NĐ-CP như sau:
- Trường hợp đã có quyết định xử lý kỷ luật về Đảng thì việc áp dụng hình thức kỷ luật hành chính đối với cán bộ, công chức, viên chức thực hiện theo các nguyên tắc xử lý kỷ luật quy định tại các Nghị định xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức.
- Trường hợp chưa có quyết định xử lý kỷ luật về Đảng, cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật chỉ đạo cơ quan tham mưu về công tác cán bộ căn cứ quy định tại Nghị định này để thực hiện xử lý kỷ luật đối với người có hành vi vi phạm.
4. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định như thế nào?
Ngoài nội dung kỷ luật, Nghị định 267/2026/NĐ-CP còn quy định về bồi thường thiệt hại. Đối tượng chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là người thực hiện hành vi gây lãng phí gây thiệt hại.
4.1. Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường
Theo Điều 9 Nghị định 267/2026/NĐ-CP, thiệt hại để xác định trách nhiệm bồi thường phải là thiệt hại thực tế, có thể lượng hóa bằng tiền theo cách xác định giá trị thiệt hại tại Nghị định hoặc pháp luật có liên quan, có mối quan hệ nhân quả trực tiếp với hành vi gây lãng phí.
Thiệt hại phải được xác định trên cơ sở chứng từ, hóa đơn, tài liệu, số liệu kế toán, các bằng chứng hợp pháp, hợp lệ và thể hiện tại kết luận của cơ quan có thẩm quyền.
Việc xem xét trách nhiệm bồi thường căn cứ vào lỗi, tính chất, mức độ của hành vi gây lãng phí, thiệt hại thực tế, mức độ khắc phục hậu quả và khả năng thực hiện nghĩa vụ bồi thường để quyết định mức, phương thức bồi thường; bảo đảm khách quan, công bằng và công khai.
4.2. Trường hợp được miễn kỷ luật nhưng vẫn phát sinh nghĩa vụ bồi thường
Các trường hợp được miễn kỷ luật nhưng vẫn phải bồi thường thiệt hại theo khoản 2 và 3 Điều 23 Nghị định 267/2026/NĐ-CP như sau:
Trường hợp người vi phạm được loại trừ, miễn trách nhiệm kỷ luật nhưng vẫn phát sinh nghĩa vụ bồi thường theo pháp luật, người có thẩm quyền xử lý kỷ luật xem xét, quyết định trách nhiệm bồi thường trên cơ sở hồ sơ, tài liệu chứng minh thiệt hại thực tế, lỗi của người vi phạm và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi với thiệt hại.
Trước khi có quyết định, người bị xem xét trách nhiệm bồi thường có quyền giải trình, cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan và đề nghị xem xét khả năng thực hiện nghĩa vụ bồi thường.
Trên đây là nội dung giải đáp “Người đứng đầu, cấp phó để xảy ra lãng phí tại cơ quan, đơn vị bị kỷ luật như thế nào?”. Bạn đọc có thể tra cứu Nghị định 267/2026/NĐ-CP trên LuatVietnam.vn để xem toàn văn và theo dõi tình trạng hiệu lực, các văn bản có liên quan.
RSS