Nghị định 267/2026/NĐ-CP quy định căn cứ xác định trách nhiệm, thời hạn bồi thường và điều kiện được nộp tiền nhiều lần hoặc tạm hoãn. Vậy người gây lãng phí phải bồi thường thiệt hại như thế nào theo Nghị định 267?
- 1. Người gây lãng phí phải bồi thường thiệt hại như thế nào theo Nghị định 267?
- 1.1. Thiệt hại làm căn cứ bồi thường được xác định ra sao?
- 1.2. Mức và phương thức bồi thường được quyết định thế nào?
- 2. Người gây lãng phí được nộp tiền bồi thường nhiều lần khi nào?
- 3. Trường hợp nào được tạm hoãn thực hiện bồi thường?
- 3.1. Các trường hợp được tạm hoãn
- 3.2. Thời gian được tạm hoãn
- 3.3. Giấy tờ chứng minh và thời hạn trả lời đề nghị
- 4. Không thực hiện hoặc cố tình trốn tránh bồi thường thì xử lý thế nào?
- 4.1. Không nộp đủ tiền bồi thường theo từng lần
- 4.2. Cố tình trì hoãn, trốn tránh bồi thường
1. Người gây lãng phí phải bồi thường thiệt hại như thế nào theo Nghị định 267?
Căn cứ khoản 2 Điều 3, Điều 9 Nghị định 267/2026/NĐ-CP, người thực hiện hành vi gây lãng phí gây thiệt hại thuộc đối tượng chịu trách nhiệm bồi thường.
Mức độ và phương thức bồi thường được quyết định căn cứ vào lỗi, hành vi vi phạm, thiệt hại thực tế, mức độ khắc phục hậu quả và khả năng thực hiện nghĩa vụ. Người có nghĩa vụ phải bồi thường một lần trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, trừ trường hợp đủ điều kiện nộp tiền nhiều lần. Cụ thể như sau:
1.1. Thiệt hại làm căn cứ bồi thường được xác định ra sao?
Thiệt hại do hành vi gây lãng phí gây ra để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại tại Nghị định 267/2026/NĐ-CP là thiệt hại thực tế, có thể lượng hóa bằng tiền theo một trong các cách xác định giá trị thiệt hại quy định tại Nghị định này hoặc quy định pháp luật có liên quan, có mối quan hệ nhân quả trực tiếp với hành vi gây lãng phí.
Thiệt hại phải được xác định trên cơ sở chứng từ, hóa đơn, tài liệu, số liệu kế toán, các bằng chứng hợp pháp, hợp lệ và thể hiện tại kết luận của cơ quan có thẩm quyền theo quy định.
1.2. Mức và phương thức bồi thường được quyết định thế nào?
Việc xem xét, xử lý trách nhiệm bồi thường phải căn cứ vào lỗi, tính chất, mức độ của hành vi gây lãng phí, thiệt hại thực tế gây ra, mức độ khắc phục hậu quả và khả năng thực hiện nghĩa vụ bồi thường của người có nghĩa vụ bồi thường để quyết định mức và phương thức bồi thường thiệt hại; bảo đảm khách quan, công bằng và công khai.
Trách nhiệm bồi thường được xác định tương ứng với mức độ lỗi, trách nhiệm và vi phạm của từng người có hành vi vi phạm, bảo đảm khách quan, công bằng, công khai và phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm.
Trường hợp không có căn cứ xác định được mức độ trách nhiệm và vi phạm của từng người thì trách nhiệm bồi thường được chia đều cho từng người.

2. Người gây lãng phí được nộp tiền bồi thường nhiều lần khi nào?
Căn cứ Điều 26 Nghị định 267/2026/NĐ-CP, việc nộp tiền bồi thường nhiều lần được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Số tiền bồi thường từ 15.000.000 đồng trở lên;
- Đang gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế và có đơn đề nghị nộp tiền bồi thường nhiều lần.
Thời hạn nộp tiền bồi thường thiệt hại nhiều lần không quá 12 tháng, kể từ ngày quyết định bồi thường thiệt hại có hiệu lực.
Trường hợp người có nghĩa vụ bồi thường thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, đang điều trị bệnh hiểm nghèo, gia đình gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế hoặc trường hợp đặc biệt khác thì người có thẩm quyền ra quyết định bồi thường thiệt hại xem xét cho nộp nhiều lần trong thời hạn không quá 24 tháng.
Số lần nộp tiền bồi thường thiệt hại, mức nộp từng lần và thời điểm nộp từng lần do người có thẩm quyền ra quyết định bồi thường thiệt hại quyết định trên cơ sở số tiền phải bồi thường, mức độ lỗi, thu nhập, hoàn cảnh kinh tế và khả năng thực hiện nghĩa vụ bồi thường của người có nghĩa vụ bồi thường. Quyết định về việc nộp tiền bồi thường nhiều lần phải bằng văn bản.
3. Trường hợp nào được tạm hoãn thực hiện bồi thường?
3.1. Các trường hợp được tạm hoãn
Căn cứ điểm a khoản 9 Điều 26 Nghị định 267/2026/NĐ-CP, người có nghĩa vụ thực hiện bồi thường được tạm hoãn thực hiện bồi thường trong các trường hợp sau:
- Đang điều trị tại các bệnh viện, phụ nữ trong thời kỳ nghỉ thai sản;
- Gia đình thuộc đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo theo quy định của Chính phủ, gia đình có hoàn cảnh khó khăn được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú xác nhận;
- Đang bị tạm giam, tạm giữ chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền điều tra, xác minh và kết luận về hành vi vi phạm pháp luật khác.
3.2. Thời gian được tạm hoãn
Thời gian tạm hoãn thực hiện bồi thường được quy định tại điểm b khoản 9 Điều 26 Nghị định 267/2026/NĐ-CP như sau:
- Tối đa không quá 06 tháng đối với trường hợp đang điều trị tại các bệnh viện, trừ trường hợp đối với bệnh hiểm nghèo, bệnh nặng thuộc danh mục do Bộ Y tế ban hành thì thời gian tạm hoãn tương ứng với thời gian điều trị bệnh thực tế; gia đình thuộc đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo theo quy định của Chính phủ, gia đình đang trong hoàn cảnh khó khăn do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú xác nhận;
- Tối đa không quá thời gian nghỉ thai sản theo quy định đối với trường hợp phụ nữ trong thời kỳ nghỉ thai sản;
- Tối đa bằng thời gian tạm giam, tạm giữ đối với trường hợp đang bị tạm giam, tạm giữ chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền điều tra, xác minh và kết luận về hành vi vi phạm pháp luật khác.
3.3. Giấy tờ chứng minh và thời hạn trả lời đề nghị
Theo khoản 10 Điều 26 Nghị định 267/2026/NĐ-CP, người có nghĩa vụ thực hiện bồi thường có trách nhiệm cung cấp giấy tờ chứng minh thuộc đối tượng được tạm hoãn bồi thường cho người có thẩm quyền ra quyết định về bồi thường thiệt hại xem xét quyết định cho phép nộp tiền bồi thường nhiều lần hoặc tạm hoãn thực hiện bồi thường theo quy định.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị tạm hoãn thực hiện bồi thường hoặc nộp tiền bồi thường nhiều lần, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định bồi thường thiệt hại có trách nhiệm trả lời cụ thể về việc cho phép tạm hoãn thực hiện bồi thường hoặc nộp tiền bồi thường nhiều lần hoặc thông báo lý do không chấp thuận.
4. Không thực hiện hoặc cố tình trốn tránh bồi thường thì xử lý thế nào?
Căn cứ theo khoản 5 và 7 Điều 26 267/2026/NĐ-CP, việc không thực hiện hoặc trốn tránh bồi thường bị xử lý như sau:
4.1. Không nộp đủ tiền bồi thường theo từng lần
Hết thời hạn nộp tiền bồi thường của từng lần mà người có nghĩa vụ bồi thường không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ bồi thường thì phải trừ 20% tiền lương thực trả hằng tháng của người lao động sau khi trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật có liên quan cho đến khi bồi thường đủ theo quyết định của người có thẩm quyền.
4.2. Cố tình trì hoãn, trốn tránh bồi thường
Trường hợp người có nghĩa vụ bồi thường cố tình trì hoãn, trốn tránh việc thực hiện bồi thường thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức nơi ra quyết định bồi thường thiệt hại căn cứ tình hình cụ thể để thực hiện các biện pháp sau đây:
- Phối hợp với cơ quan, tổ chức nơi tiếp nhận công tác, chính quyền địa phương nơi cư trú để yêu cầu người đó tiếp tục thực hiện bồi thường;
- Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trừ dần vào tiền lương hưu của người chưa hoàn thành bồi thường đã nghỉ hưu theo tỷ lệ 20% tiền lương hưu hằng tháng;
- Thực hiện quyền khởi kiện theo quy định pháp luật.
Trên đây là thông tin giải đáp “Người gây lãng phí phải bồi thường thiệt hại như thế nào theo Nghị định 267?”. Bạn đọc có thể xem toàn văn Nghị định 267/2026/NĐ-CP trên LuatVietnam.vn, đồng thời tra cứu tình trạng hiệu lực, lược đồ và các văn bản liên quan.
RSS