Việc nhận biết và sử dụng tài khoản người bán được quy định theo từng chức năng của mạng xã hội. Vậy mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử phải quản lý tài khoản người bán thế nào?
- 1. Mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử phải quản lý tài khoản người bán thế nào?
- 2. Mạng xã hội phải xác thực danh tính người bán như thế nào?
- 2.1. Xác thực người bán trong nước
- 2.2. Xác thực người bán nước ngoài
- 3. Mạng xã hội phải công khai những thông tin nào về người bán?
- 4. Tài khoản người bán bị tạm ngừng, chấm dứt thì mạng xã hội có trách nhiệm gì?
- 4.1. Quy định các trường hợp và thời hạn xử lý tài khoản
- 4.2. Bảo đảm cho người bán tải dữ liệu từ tài khoản
- 5. Mạng xã hội là nền tảng số lớn phải ngăn chặn tái phạm thế nào?
1. Mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử phải quản lý tài khoản người bán thế nào?
Chủ quản mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử phải công khai dấu hiệu nhận biết tài khoản người bán, bảo đảm hiển thị rõ ràng, dễ nhận biết và không gây nhầm lẫn với tài khoản người sử dụng khác. Với từng chức năng của nền tảng, việc yêu cầu lựa chọn, sử dụng thông tin tài khoản người bán được quy định riêng theo Điều 19 Nghị định 248/2026/NĐ-CP.
Về dấu hiệu nhận biết tài khoản, trách nhiệm của chủ quản mạng xã hội được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 19:
“Công khai dấu hiệu nhận biết tài khoản người bán, dấu hiệu phải hiển thị rõ ràng, dễ nhận biết, không gây nhầm lẫn với tài khoản người sử dụng khác.”
Đối với mạng xã hội có chức năng liên lạc trực tuyến có tích hợp công cụ thông báo xác nhận giao kết hợp đồng, chủ quản có trách nhiệm theo điểm b khoản 2 Điều 19:
“Yêu cầu tổ chức, cá nhân lựa chọn, sử dụng thông tin tài khoản người bán khi sử dụng chức năng liên lạc trực tuyến có tích hợp công cụ thông báo xác nhận giao kết hợp đồng trên nền tảng.”
Đối với mạng xã hội có chức năng livestream bán hàng, có chức năng đặt hàng trực tuyến, trách nhiệm sử dụng thông tin tài khoản người bán được quy định b khoản 3 Điều 19:
“Yêu cầu tổ chức, cá nhân lựa chọn, sử dụng thông tin tài khoản người bán khi sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến.”
2. Mạng xã hội phải xác thực danh tính người bán như thế nào?

Trách nhiệm xác thực người bán được áp dụng đối với mạng xã hội có chức năng liên lạc trực tuyến có tích hợp công cụ thông báo xác nhận giao kết hợp đồng; mạng xã hội có chức năng livestream bán hàng, có chức năng đặt hàng trực tuyến. Căn cứ áp dụng là điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 19 Nghị định 248/2026/NĐ-CP.
Thông tin, giấy tờ xác thực được quy định riêng đối với người bán trong nước và người bán nước ngoài.
2.1. Xác thực người bán trong nước
Thực hiện việc xác thực điện tử danh tính người bán trong nước thông qua các thông tin sau đây:
- Đối với cá nhân trong nước: họ và tên; ngày, tháng, năm sinh; số định danh cá nhân;
- Đối với tổ chức trong nước: tên tổ chức; địa chỉ trụ sở chính; số định danh của tổ chức; họ và tên, ngày, tháng, năm sinh, số định danh cá nhân của người đại diện theo pháp luật;
2.2. Xác thực người bán nước ngoài
Thực hiện việc xác thực người bán nước ngoài thông qua các giấy tờ hợp pháp sau đây:
- Đối với cá nhân nước ngoài: tên, số hộ chiếu, tên quốc gia, vùng lãnh thổ của cá nhân tại hộ chiếu hoặc các giấy tờ tương đương khác còn hiệu lực ít nhất 06 tháng kể từ ngày xét duyệt do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp;
- Đối với tổ chức nước ngoài: tên tổ chức, địa chỉ trụ sở chính, tên quốc gia, vùng lãnh thổ của tổ chức tại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc các giấy tờ tương đương khác do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp; tên, số hộ chiếu của người đại diện theo pháp luật hoặc các giấy tờ tương đương khác còn hiệu lực ít nhất 06 tháng kể từ ngày xét duyệt do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp;
3. Mạng xã hội phải công khai những thông tin nào về người bán?
Đối với hai nhóm mạng xã hội nêu tại Mục 2, ngoài xác thực danh tính, chủ quản còn phải công khai thông tin người bán. Trách nhiệm này được áp dụng theo điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 19 Nghị định 248/2026/NĐ-CP.
Nội dung công khai được quy định cụ thể: Công khai thông tin về tên, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp, hộ kinh doanh theo nội dung đăng ký đã thực hiện với cơ quan đăng ký kinh doanh; tên, địa chỉ nơi đặt trụ sở của tổ chức; tên, địa chỉ cư trú của cá nhân. Các thông tin phải được phiên âm sang tiếng Việt hoặc thể hiện bằng ký tự La-tinh.
4. Tài khoản người bán bị tạm ngừng, chấm dứt thì mạng xã hội có trách nhiệm gì?
Việc quản lý tài khoản bao gồm quy định các trường hợp tạm ngừng, chấm dứt, hạn chế tài khoản. Riêng mạng xã hội có chức năng livestream bán hàng, có chức năng đặt hàng trực tuyến còn phải thực hiện trách nhiệm về thời hạn xử lý tài khoản và bảo đảm khả năng tải dữ liệu theo điểm a khoản 3 Điều 19 Nghị định 248/2026/NĐ-CP.
4.1. Quy định các trường hợp và thời hạn xử lý tài khoản
Trong nội dung công khai về quyền và nghĩa vụ của chủ quản nền tảng thương mại điện tử có yêu cầu theo điểm e khoản 1 Điều 6:
“Quy định các trường hợp tạm ngừng, chấm dứt, hạn chế tài khoản người bán, người mua;”
Đối với mạng xã hội có chức năng livestream bán hàng, có chức năng đặt hàng trực tuyến, trách nhiệm xử lý tài khoản theo yêu cầu của cơ quan nhà nước được quy định theo điểm e khoản 2 Điều 18:
“Tạm ngừng, chấm dứt tài khoản người bán trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.”
4.2. Bảo đảm cho người bán tải dữ liệu từ tài khoản
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 18 đồng thời dẫn chiếu điểm a khoản 3 Điều 19 quy định về trách nhiệm xử lý tài khoản, nhóm mạng xã hội có chức năng livestream bán hàng, có chức năng đặt hàng trực tuyến phải thực hiện trách nhiệm cung cấp công cụ và bảo đảm khả năng tải dữ liệu:
“Cung cấp công cụ để người bán truy cập tài khoản để tải về dữ liệu về hàng hóa, dịch vụ đã đăng tải trong vòng 01 năm từ thời điểm đăng tải, dữ liệu về hợp đồng giao kết trong vòng 03 năm kể từ thời điểm giao kết hợp đồng, trừ trường hợp người bán chủ động xóa tài khoản. Trường hợp tài khoản người bán bị tạm ngừng hoặc chấm dứt hoạt động, chủ quản nền tảng bảo đảm cho người bán có thể truy cập tài khoản hoặc phương thức khác để tải dữ liệu về hợp đồng giao kết đã thực hiện trước đó trong thời gian ít nhất 03 năm từ thời điểm tài khoản bị tạm ngừng hoặc chấm dứt hoạt động;”
5. Mạng xã hội là nền tảng số lớn phải ngăn chặn tái phạm thế nào?
Đối với mạng xã hội có chức năng livestream bán hàng, có chức năng đặt hàng trực tuyến là nền tảng số lớn theo pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chủ quản phải thực hiện thêm trách nhiệm rà soát, cảnh báo, gỡ bỏ tự động và ngăn chặn tái phạm. Căn cứ áp dụng đối với nhóm mạng xã hội này là khoản 4 Điều 19 Nghị định 248/2026/NĐ-CP.
Nội dung trách nhiệm được quy định theo điểm c khoản 3 Điều 18 cụ thể:
“Có hệ thống rà soát, cảnh báo, gỡ bỏ tự động thông tin hàng hóa, dịch vụ vi phạm pháp luật; có biện pháp ngăn chặn các hành vi tái phạm, bao gồm các hành vi vi phạm điều kiện hoạt động và điều kiện giao dịch của nền tảng thương mại điện tử đã bị nền tảng thương mại điện tử xử lý mà lại tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm đó;”
Trên đây là giải đáp về “Mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử phải quản lý tài khoản người bán thế nào?”. Bạn đọc có thể xem chi tiết Nghị định 248/2026/NĐ-CP trên LuatVietnam.vn, đồng thời sử dụng thông tin về tình trạng hiệu lực và lược đồ văn bản để tra cứu các quy định liên quan.
RSS