Ghi âm, ghi hình nơi công cộng có vi phạm quyền riêng tư không?

Việc ghi âm, ghi hình tại nơi công cộng diễn ra ngày càng phổ biến, từ camera an ninh, thiết bị cá nhân, điện thoại thông minh cho đến hoạt động báo chí, truyền thông, tổ chức sự kiện. Vậy, ghi âm, ghi hình nơi công cộng có vi phạm quyền riêng tư không?

Ghi âm, ghi hình nơi công cộng có vi phạm quyền riêng tư?

Theo Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, việc ghi âm, ghi hình tại nơi công cộng không mặc nhiên bị coi là xâm phạm quyền riêng tư của cá nhân. 

Cụ thể, theo khoản 1 Điều 32 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025, cơ quan, tổ chức, cá nhân được ghi âm, ghi hình và xử lý dữ liệu cá nhân thu được từ hoạt động ghi âm, ghi hình tại nơi công cộng, hoạt động công cộng mà không cần có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân trong các trường hợp:

- Để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

- Âm thanh, hình ảnh, các thông tin nhận dạng khác thu được từ các hoạt động công cộng bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của chủ thể dữ liệu cá nhân;

- Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Có thể thấy, pháp luật cho phép việc ghi âm, ghi hình và xử lý dữ liệu cá nhân thu được từ hoạt động ghi âm, ghi hình tại nơi công cộng trong những trường hợp nhất định, mà không cần sự đồng ý trước của chủ thể dữ liệu cá nhân.

Tuy nhiên, quy định cho phép này cũng đi kèm với những điều kiện và nghĩa vụ cụ thể.

Ghi âm ghi hình nơi công cộng có vi phạm quyền riêng tư không?
Ghi âm ghi hình nơi công cộng có vi phạm quyền riêng tư không? (Ảnh minh họa)

2. Ghi âm, ghi hình nơi công cộng vẫn phải bảo đảm nguyên tắc minh bạch

Một điểm rất quan trọng trong Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 là yêu cầu về tính minh bạch trong hoạt động thu thập dữ liệu.

Theo khoản 2 Điều 32, người thực hiện ghi âm, ghi hình tại nơi công cộng phải có trách nhiệm thông báo hoặc áp dụng hình thức thông tin phù hợp để người liên quan biết rằng họ đang bị ghi âm, ghi hình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Quy định này nhằm bảo đảm quyền được biết của chủ thể dữ liệu cá nhân, đồng thời hạn chế tình trạng ghi âm, ghi hình bí mật, gây tâm lý bất an hoặc xâm phạm đời sống riêng tư của người dân, ngay cả khi họ đang ở không gian công cộng.

3. Giới hạn sử dụng dữ liệu cá nhân thu được từ ghi âm, ghi hình

 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 202 không chỉ điều chỉnh hành vi ghi âm, ghi hình, mà còn quản lý chặt chẽ việc xử lý và sử dụng dữ liệu cá nhân thu được từ hoạt động này.

Theo khoản 3 và khoản 4 Điều 32 Luật này, dữ liệu cá nhân thu được từ ghi âm, ghi hình nơi công cộng chỉ được xử lý đúng với mục đích đã xác lập ban đầu và không được sử dụng theo cách xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân có liên quan.

Ngoài ra, dữ liệu chỉ được lưu trữ trong thời gian cần thiết cho mục đích đã xác định. Khi hết thời hạn lưu trữ, dữ liệu phải được xóa hoặc hủy theo đúng quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Do đó, ngay cả trong trường hợp việc ghi âm, ghi hình ban đầu là hợp pháp, thì việc sử dụng hình ảnh, âm thanh để bôi nhọ, xâm phạm danh dự, khai thác thương mại trái phép hoặc lan truyền ngoài phạm vi mục đích ban đầu vẫn có thể bị coi là hành vi vi phạm pháp luật.

Từ các quy định nêu trên có thể khẳng định rằng, ghi âm, ghi hình nơi công cộng không đương nhiên vi phạm quyền riêng tư. Hoạt động này được pháp luật cho phép nếu đáp ứng đúng mục đích, có tính minh bạch và bảo đảm việc sử dụng dữ liệu không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân.

Ngược lại, ghi âm, ghi hình sai mục đích, không thông báo theo quy định hoặc sử dụng dữ liệu thu được để gây tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, quyền riêng tư của người khác vẫn bị coi là hành vi vi phạm và có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân và các quy định pháp luật liên quan.

Trên đây là thông tin giải đáp cho vấn đề: Ghi âm, ghi hình nơi công cộng có vi phạm quyền riêng tư không?

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Tổng hợp mức phạt vi phạm về hoạt động tư vấn pháp luật theo Nghị định 109/2026/NĐ-CP

Tổng hợp mức phạt vi phạm về hoạt động tư vấn pháp luật theo Nghị định 109/2026/NĐ-CP

Tổng hợp mức phạt vi phạm về hoạt động tư vấn pháp luật theo Nghị định 109/2026/NĐ-CP

Bài viết dưới đây sẽ tổng hợp chi tiết các mức phạt vi phạm về hoạt động tư vấn pháp luật theo Nghị định 109/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ 18/5/2026) để bạn đọc dễ dàng theo dõi và áp dụng.

Tổng hợp mức phạt vi phạm của Luật sư theo Nghị định 109/2026/NĐ-CP

Tổng hợp mức phạt vi phạm của Luật sư theo Nghị định 109/2026/NĐ-CP

Tổng hợp mức phạt vi phạm của Luật sư theo Nghị định 109/2026/NĐ-CP

Từ ngày 18/5/2026, Nghị định 109/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực sẽ siết chặt nhiều chế tài đối với hoạt động hành nghề luật sư. Theo đó, tùy tính chất và mức độ vi phạm, luật sư có thể bị phạt đến 40.000.000 đồng, thậm chí bị tước quyền hành nghề nếu vi phạm nghiêm trọng.

Từ 15/5/2026, thuê mượn chứng chỉ hành nghề dược bị phạt bao nhiêu?

Từ 15/5/2026, thuê mượn chứng chỉ hành nghề dược bị phạt bao nhiêu?

Từ 15/5/2026, thuê mượn chứng chỉ hành nghề dược bị phạt bao nhiêu?

Từ ngày 15/5/2026, hành vi thuê, mượn chứng chỉ hành nghề dược - vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro trong quản lý hoạt động kinh doanh dược - sẽ bị xử phạt nghiêm khắc theo quy định mới. Vậy mức phạt cụ thể là bao nhiêu? Dưới đây là thông tin chi tiết.

Đã có Bảng so sánh Nghị định 96/2026/NĐ-CP và Nghị định 31/2021/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đầu tư

Đã có Bảng so sánh Nghị định 96/2026/NĐ-CP và Nghị định 31/2021/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đầu tư

Đã có Bảng so sánh Nghị định 96/2026/NĐ-CP và Nghị định 31/2021/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đầu tư

Nghị định 96/2026/NĐ-CP đã chính thức được ban hành với nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng so với Nghị định 31/2021/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đầu tư. Những thay đổi này tác động trực tiếp đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.

Từ 01/7/2026, những hành vi nào bị cấm trong hoạt động thương mại điện tử?

Từ 01/7/2026, những hành vi nào bị cấm trong hoạt động thương mại điện tử?

Từ 01/7/2026, những hành vi nào bị cấm trong hoạt động thương mại điện tử?

Từ ngày 01/7/2026, hoạt động thương mại điện tử sẽ chính thức chịu sự điều chỉnh với nhiều hành vi bị cấm mới, nhằm tăng cường quản lý, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và bảo đảm môi trường kinh doanh số minh bạch, lành mạnh. Dưới đây là thông tin chi tiết.