Nghị định 277/2026/NĐ-CP quy định Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia là nơi tích hợp, chuẩn hóa, quản trị và khai thác dữ liệu văn hóa số từ nhiều nguồn khác nhau. Vậy khi cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đóng góp dữ liệu vào Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia thì quyền tác giả được ghi nhận như thế nào?
- 1. Đóng góp dữ liệu vào Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia được ghi nhận quyền tác giả như thế nào?
- 2. Thông tin về quyền tác giả đối với dữ liệu văn hóa số được thể hiện thế nào?
- 3. Dữ liệu trong Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia được khai thác như thế nào?
- 4. Khai thác dữ liệu văn hóa số phải bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ thế nào?
- 5. Ai quản lý Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia?
1. Đóng góp dữ liệu vào Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia được ghi nhận quyền tác giả như thế nào?
Việc đóng góp dữ liệu vào Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia không làm thay đổi quyền của chủ sở hữu dữ liệu, quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có quyền tác giả và quyền liên quan theo quy định của pháp luật. Đây là nguyên tắc được quy định trực tiếp tại điểm a khoản 4 Điều 7 Nghị định 277/2026/NĐ-CP.
Cụ thể:
- Việc đóng góp dữ liệu vào Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia không làm thay đổi quyền của chủ sở hữu dữ liệu, quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có quyền tác giả và quyền liên quan theo quy định của pháp luật;
- Dữ liệu gốc được lưu trữ tại Kho hoặc lưu trữ phân tán tại các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và thiết chế văn hóa theo quy định của pháp luật.
Như vậy, theo đúng nội dung Nghị định, việc đưa dữ liệu vào Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia không đồng nghĩa với việc chuyển quyền tác giả, quyền liên quan hoặc quyền sở hữu trí tuệ của chủ thể đang có quyền đối với dữ liệu đó.
2. Thông tin về quyền tác giả đối với dữ liệu văn hóa số được thể hiện thế nào?

Ngoài nguyên tắc không làm thay đổi quyền khi đóng góp dữ liệu, Nghị định 277/2026/NĐ-CP còn quy định thông tin về quyền sở hữu trí tuệ là một trong những thông tin cơ bản của dữ liệu đặc tả đối với dữ liệu văn hóa số.
Cụ thể, theo khoản 4 Điều 9, trừ trường hợp dữ liệu không yêu cầu có dữ liệu đặc tả, dữ liệu văn hóa số có dữ liệu đặc tả bao gồm thông tin cơ bản:
- Mã định danh, tham chiếu;
- Ngữ cảnh văn hóa;
- Ngữ cảnh số hóa;
- Quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có quyền tác giả và quyền liên quan đối với dữ liệu;
- Điều kiện chia sẻ, khai thác và sử dụng dữ liệu;
- Thông tin khác phục vụ quản lý, chia sẻ, khai thác và sử dụng dữ liệu.
Theo quy định này, quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có quyền tác giả và quyền liên quan đối với dữ liệu, là một nội dung thuộc dữ liệu đặc tả của dữ liệu văn hóa số.
Bên cạnh thông tin về quyền tác giả, dữ liệu đặc tả còn thể hiện điều kiện chia sẻ, khai thác và sử dụng dữ liệu. Đây là các thông tin được Nghị định quy định cùng trong khoản 4 Điều 9 để phục vụ việc quản lý và khai thác dữ liệu văn hóa số.
Tuy nhiên, Nghị định có quy định riêng đối với một số dữ liệu không yêu cầu có dữ liệu đặc tả. Theo khoản 3 Điều 9, các trường hợp này gồm:
- Dữ liệu văn bản (text);
- Dữ liệu tạm thời, dữ liệu trung gian phát sinh trong quá trình xử lý, không phục vụ mục đích lưu trữ, chia sẻ lâu dài.
3. Dữ liệu trong Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia được khai thác như thế nào?
Theo khoản 3 Điều 7 Nghị định 277/2026/NĐ-CP, Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, trong đó có việc cung cấp dữ liệu phục vụ nghiên cứu, phát triển công nghệ cũng như sáng tạo và sản xuất sản phẩm văn hóa số.
Cụ thể, Kho dữ liệu được sử dụng để:
- Phục vụ công tác quản lý nhà nước, thống kê, phân tích chuyên sâu, tổng hợp, dự báo và hoạch định chiến lược, chính sách phát triển văn hóa;
- Cung cấp dữ liệu phục vụ giáo dục, đào tạo, nghiên cứu, phát triển trí tuệ nhân tạo, công nghệ số, phát triển sản phẩm, dịch vụ văn hóa số và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa;
- Cung cấp dữ liệu để các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nhằm phục vụ sáng tạo, sản xuất, phân phối các sản phẩm, dịch vụ văn hóa số, phát triển công nghiệp văn hóa theo quy định của pháp luật;
- Phục vụ ngoại giao văn hóa, thông tin đối ngoại, quảng bá hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt Nam;
- Cung cấp dữ liệu mở, dữ liệu mở có điều kiện, dữ liệu khai thác có thu phí, dữ liệu khai thác thương mại theo quy định của pháp luật.
Việc khai thác Kho dữ liệu vì vậy được thực hiện song song với nguyên tắc bảo đảm quyền của chủ sở hữu dữ liệu và quyền sở hữu trí tuệ đối với dữ liệu đã đóng góp.
4. Khai thác dữ liệu văn hóa số phải bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ thế nào?
Khoản 1 Điều 11 Nghị định 277/2026/NĐ-CP quy định việc xử lý, khai thác và sử dụng dữ liệu văn hóa số phải thực hiện theo pháp luật về dữ liệu, bảo vệ bí mật nhà nước, tiếp cận thông tin, sở hữu trí tuệ và phải bảo đảm giữ gìn ngữ cảnh văn hóa.
Cụ thể, việc xử lý, khai thác và sử dụng dữ liệu văn hóa số phải:
- Thực hiện theo quy định của pháp luật về dữ liệu;
- Tuân thủ pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước;
- Tuân thủ pháp luật về tiếp cận thông tin;
- Tuân thủ pháp luật về sở hữu trí tuệ;
- Bảo đảm giữ gìn ngữ cảnh văn hóa;
- Không làm sai lệch, xuyên tạc hoặc tách rời dữ liệu khỏi ngữ cảnh văn hóa gắn với dữ liệu.
Nghị định đồng thời khuyến khích áp dụng các giải pháp kỹ thuật xác thực như gắn nhãn số, chữ ký số đối với dữ liệu văn hóa nhằm bảo đảm tính nguyên bản và chống làm giả trên môi trường số.
Ngoài ra, khoản 3 Điều 11 còn quy định dữ liệu văn hóa số có thể được phân loại thành các nhóm như dữ liệu mở, dữ liệu mở kèm điều kiện, dữ liệu khai thác và sử dụng có thu phí hoặc dữ liệu khai thác thương mại theo thỏa thuận, hợp đồng thương mại.
Do đó, việc một dữ liệu được đưa vào Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia không có nghĩa mọi tổ chức, cá nhân đều được khai thác dữ liệu đó theo cùng một cách; việc xử lý và khai thác còn phụ thuộc vào loại dữ liệu, điều kiện sử dụng và các quy định pháp luật có liên quan.
5. Ai quản lý Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia?
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan chủ quản, chịu trách nhiệm tổ chức, xây dựng, thiết lập, quản lý, quản trị, vận hành và phát triển Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia (theo khoản 6 Điều 7 Nghị định 277/2026/NĐ-CP).
Đối với các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, khoản 7 Điều 7 quy định trách nhiệm tạo lập, chuẩn hóa, cập nhật, kết nối, chia sẻ và đồng bộ dữ liệu văn hóa số thuộc phạm vi quản lý với Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia.
Thiết chế văn hóa, cơ sở giáo dục, cơ sở nghiên cứu và tổ chức có liên quan cũng có trách nhiệm kết nối, chia sẻ, đồng bộ dữ liệu với Kho; đồng thời phải bảo đảm chất lượng dữ liệu, an ninh mạng, an ninh thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật nhà nước, quyền sở hữu trí tuệ và các quyền, lợi ích hợp pháp khác có liên quan (theo điểm b khoản 8 Điều 7).
Nghị định 277/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 09/7/2026, tức ngày ký ban hành (khoản 1 Điều 20).
Trên đây là thông tin về “Đóng góp dữ liệu vào Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia được ghi nhận quyền tác giả như thế nào?”. Bạn đọc có thể tra cứu toàn văn Nghị định 277/2026/NĐ-CP trên LuatVietnam.vn để xem đầy đủ quy định về Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia, quyền sở hữu trí tuệ và điều kiện khai thác dữ liệu.
RSS