- 1. Bổ sung thêm hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động bảo vệ môi trường
- 2. Điều chỉnh quy định phân loại dự án đầu tư
- 2.1. Tiêu chí yếu tố nhạy cảm về môi trường
- 2.2. Phân loại dự án đầu tư theo 3 nhóm
- 3. Điều chỉnh quy định về đánh giá sơ bộ tác động môi trường
- 3.1. Thu hẹp đối tượng phải đánh giá sơ bộ tác động môi trường
- 3.2. Bổ sung quy định về việc cập nhật nội dung đánh giá sơ bộ tác động môi trường
- 3.3. Chi tiết, cụ thể hóa nội dung đánh giá sơ bộ tác động môi trường
- 4. Điều chỉnh thời điểm cấp giấy phép môi trường
Dưới đây là một số điểm mới dự thảo Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi:
1. Bổ sung thêm hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động bảo vệ môi trường
Khoản 4 Điều 1 dự thảo sửa đổi khoản 11 và bổ sung khoản 11a vào sau khoản 11 Điều 6 Luật Bảo vệ môi trường 2020 như sau:
- Sản xuất, nhập khẩu các chất được kiểm soát và thiết bị, sản phẩm có chứa hoặc được sản xuất từ chất được kiểm soát thuộc đối tượng cấm theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường
Trước đây là: Sản xuất, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất và tiêu thụ chất làm suy giảm tầng ô-dôn theo quy định của điều ước quốc tế về các chất làm suy giảm tầng ô-dôn mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
- Bổ sung: Thải ra môi trường các chất được kiểm soát có chứa trong thiết bị, sản phẩm khi không còn sử dụng.

2. Điều chỉnh quy định phân loại dự án đầu tư
Khoản 10 Điều 1 dự thảo sửa đổi, bổ sung Điều 28 Luật Bảo vệ môi trường quy định tiêu chí về môi trường để phân loại dự án đầu tư như sau:
2.1. Tiêu chí yếu tố nhạy cảm về môi trường
Dự thảo quy định tiêu chí về môi trường để phân loại dự án đầu tư bao gồm:
- Loại hình dự án đầu tư gắn với công suất hoặc quy mô hoặc lưu lượng nước thải, khí thải xả ra môi trường; loại khoáng sản đối với dự án khai thác khoáng sản;
- Yếu tố nhạy cảm về môi trường nơi thực hiện dự án đầu tư là mức độ chiểm dụng đất, đất có mặt nước, biển tại các khu vực: rừng đặc dụng, rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản, khu bảo tổn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển, di sản thiên nhiên thế giới, vùng đất ngập nước quan trọng.
Việc chiếm dụng đất, đất có mặt nước, biển tại các khu vực quy định tại điểm này là hoạt động sử dụng đất, đất có mặt nước, biển tại các khu vực này hoặc hoạt động chuyển mục đích sử dụng đất tại các khu vực: khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản, khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển, di sản thiên nhiên thế giới, vùng đất ngập nước quan trọng theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc hoạt động chuyển mục đích sử dụng rừng tại các khu vực: rừng đặc dụng, rừng tự nhiên, rừng phòng hộ theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp.
So với quy định tại Luật Bảo vệ môi trường, dự thảo chuyển từ liệt kê sang xác định theo mức độ chiếm dụng các khu vực nhạy cảm. Đồng thời, lược bỏ một số yếu tố: khu dân cư tập trung; nguồn nước sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt; yêu cầu di dân, tái định cư.
2.2. Phân loại dự án đầu tư theo 3 nhóm
Tại Điều 28 Luật Bảo vệ môi trường quy định có 04 loại dự án đầu tư. Tuy nhiên tại dự thảo Luật sửa đổi chỉ quy định gồm 03 nhóm:
- Dự án đầu tư nhóm I là dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường mức độ cao
- Dự án đầu tư nhóm II là dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường
- Dự án đầu tư nhóm III là dự án ít có nguy cơ tác động xấu đến môi trường
Không còn quy định: Dự án đầu tư nhóm IV là dự án không có nguy cơ tác động xấu đến môi trường.
3. Điều chỉnh quy định về đánh giá sơ bộ tác động môi trường
Khoản 11 Điều 1 dự thảo sửa đổi, bổ sung Điều 29 Luật Bảo vệ môi trường về đánh giá sơ bộ tác động môi trường như sau:
3.1. Thu hẹp đối tượng phải đánh giá sơ bộ tác động môi trường
Đối tượng phải đánh giá sơ bộ tác động môi trường gồm dự án đầu tư nhóm I và thuộc đối tượng phải đề nghị quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư (quy định bổ sung) theo quy định của pháp luật về đầu tư, đầu tư công, đầu tư theo phương thức đối tác công tư, xây dựng.
3.2. Bổ sung quy định về việc cập nhật nội dung đánh giá sơ bộ tác động môi trường
Bổ sung: Dự án đầu tư có thay đổi phải điều chỉnh chủ trương đầu tư theo pháp luật về đầu tư, đầu tư công, đầu tư phương thức đối tác công tư, quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi nước ngoài thì phải cập nhật nội dung đánh giá sơ bộ tác động môi trường theo các thay đổi này trong hồ sơ đề xuất điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án, trừ trường hợp thay đổi về một hoặc các nội dung: kéo dài tiến độ, điều chỉnh thời hạn hoạt động, thay đổi nhà đầu tư.
3.3. Chi tiết, cụ thể hóa nội dung đánh giá sơ bộ tác động môi trường
Trước đây Luật cũ liệt kê 05 nội dung nhưng chưa quy định chi tiết. Với dự thảo mới, nội dung đánh cgm 04 nhóm nội dung nhưng được quy định cụ thể:
(1) Đánh giá sự phù hợp của địa điểm thực hiện dự án đầu tư với Quy hoạch bảo vệ môi trường, nội dung bảo vệ môi trường trong quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, bao gồm:
- Sự phù hợp về loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, quy mô và vị trí của dự án;
- Sự phù hợp của dự án với yêu cầu về bảo vệ môi trường theo phân vùng môi trường;
- Việc đáp ứng khoảng cách an toàn về môi trường theo quy định (nếu có).
(2) Nhận dạng, dự báo các tác động của dự án đầu tư đối với môi trường trên cơ sở quy mô, công nghệ sản xuất và địa điểm thực hiện dự án, bao gồm:
- Xác định nguồn tiếp nhận nước thải và sự phù hợp với khả năng chịu tải, phân vùng xả nước thải của nguồn tiếp nhận nước thải;
- Sự phù hợp của việc xả khí thải theo phân vùng môi trường; tác động đến cảnh quan thiên nhiên, hệ sinh thái tự nhiên, đa dạng sinh học và sự phù hợp với các quy định về bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học;
- Sự phù hợp của các hoạt động lấn, lấp sông, suối, kênh, mương, rạch, hoạt động cải tạo lòng, bờ, bãi sông, hồ, xây dựng công trình thủy, khai thác cát, sỏi và các khoáng sản khác trên sông, hồ, hành lang bảo vệ nguồn nước theo quy định của pháp luật về tài nguyên nước;
(3) Nhận diện yếu tố nhạy cảm về môi trường của dự án đầu tư theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 28 Luật này và sự phù hợp của việc triển khai dự án với các quy định về bảo vệ môi trường đối với khu vực có yếu tố nhạy cảm về môi trường
(4) Đề xuất sơ bộ giải pháp khả thi giảm thiểu tác động xấu tới môi trường của dự án đầu tư đã được nhận dạng, dự báo, bao gồm:
- Giải pháp về các phương án quy mô, công nghệ sản xuất;
- Giải pháp thi công, xây dựng;
- Giải pháp để đáp ứng các quy định về bảo vệ môi trường đối với khu vực có yếu tố nhạy cảm về môi trường;
- Các công trình biện pháp bảo vệ môi trường, giảm thiểu tác động đến cảnh quan thiên nhiên, hệ sinh thái tự nhiên, đa dạng sinh học;
- Biện pháp khắc phục tác động của hoạt động lấn, lấp sông, suối, kênh, mương, rạch, hoạt động cải tạo lòng, bờ, bãi sông, hồ, xây dựng công trình thủy, khai thác cát, sỏi và các khoáng sản khác trên sông, hồ, hành lang bảo vệ nguồn nước.
Lưu ý: Tích hợp các giải pháp này trong đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của dự án đầu tư
4. Điều chỉnh thời điểm cấp giấy phép môi trường
Dự thảo điều chỉnh về thời điểm cấp giấy phép môi trường tại khoản 2 Điều 42 như sau:
- Dự án đầu tư thuộc đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường phải có giấy phép môi trường sau khi đã hoàn thành công trình bảo vệ môi trường và trước khi thực hiện hoạt động xả nước thải, khí thải ra môi trường trong giai đoạn vận hành, nhập khẩu phế liệu từ nước ngoài làm nguyên liệu sản xuất, thực hiện dịch vụ xử lý chất thải nguy hại.
Trước đây: Phải có giấy phép môi trường trước khi vận hành thử nghiệm công trình xử lý chất thải.
- Dự án đầu tư không thuộc đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường phải có giấy phép môi trường trước khi thực hiện hoạt động xả nước thải, khí thải ra môi trường trong giai đoạn vận hành.
Trước đây: Phải có giấy phép môi trường trước khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản. Trường hợp dự án đầu tư xây dựng không thuộc đối tượng được cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi theo quy định của pháp luật về xây dựng thì phải có giấy phép môi trường trước khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, điều chỉnh giấy phép xây dựng.
Trên đây là một số nội điểm mới dự thảo Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi.
RSS