
1. Điều chỉnh định nghĩa về chuyển giao công nghệ
Tại điểm b khoản 1 Điều 1 Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi 2025 đã điều chỉnh và mở rộng định nghĩa chuyển giao công nghệ, không chỉ dừng lại ở việc chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng như trước đây, mà còn nhấn mạnh đây là hoạt động gắn với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm đưa công nghệ vào ứng dụng thực tiễn.
2. Bổ sung định nghĩa về công nghệ xanh
Điểm a khoản 1 Điều 1 Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi 2025 đã bổ sung quy định hoàn toàn mới về công nghệ xanh, xác định rõ tiêu chí như tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và thân thiện môi trường.
5a. Công nghệ xanh là công nghệ nhằm sử dụng hiệu quả tài nguyên, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải, thân thiện với môi trường, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Trước đây, luật cũ chưa có bất kỳ khái niệm nào cho loại công nghệ này.
3. Mở rộng đối tượng công nghệ được chuyển giao
Khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi đã mở rộng và cập nhật đối tượng công nghệ được chuyển giao, thay các thuật ngữ cũ như “bản vẽ” bằng “thiết kế”, “phần mềm máy tính” bằng “phần mềm”, đồng thời bổ sung thêm các đối tượng mới như mô hình và thuật toán.
4. Bổ sung chính sách ưu tiên chuyển giao công nghệ
Khoản 2 Điều 1 Luật Chuyển đổi công nghệ số sửa đổi 2025 đã bổ sung hệ thống chính sách ưu tiên và khuyến khích rõ ràng, như ưu tiên công nghệ chiến lược, công nghệ xanh, hỗ trợ về thuế, đầu tư và khuyến khích chuyển giao từ nước ngoài.
- Ưu tiên chuyển giao công nghệ chiến lược, công nghệ xanh, công nghệ phục vụ dự án quan trọng quốc gia; chú trọng hoạt động chuyển giao công nghệ cho địa bàn vùng miền núi, hải đảo.
- Đẩy mạnh chuyển giao công nghệ chiến lược, chú trọng lan tỏa công nghệ chiến lược từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang doanh nghiệp trong nước- Khuyến khích tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện hoạt động chuyển giao công nghệ cho tổ chức, cá nhân Việt Nam nhằm nâng cao năng lực tiếp thu, làm chủ và đổi mới công nghệ trong nước; việc chuyển giao công nghệ trong hoạt động đầu tư nước ngoài được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận giữa các bên, bảo đảm tuân thủ pháp luật về sở hữu trí tuệ và phù hợp với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
- Ưu tiên áp dụng chính sách ưu đãi về đầu tư, thuế, đất đai, tín dụng và các biện pháp khuyến khích khác đối với dự án đầu tư nước ngoài có nội dung chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, phát triển năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo hoặc ứng dụng công nghệ tại Việt Nam.
5. Điều chỉnh rõ quyền chuyển giao công nghệ
- Quy định rõ hình thức đồng ý của chủ sở hữu: phải bằng văn bản hoặc hình thức hợp pháp khác.
- Bổ sung quyền của bên nhận: được cải tiến, phát triển và khai thác công nghệ theo quy định pháp luật.- Làm rõ quyền sở hữu, sử dụng công nghệ: được xác lập và bảo vệ theo pháp luật; quy định trường hợp nhiều chủ thể cùng sở hữu; đồng thời tách bạch quyền công nghệ với quyền sở hữu sản phẩm, thiết bị có tích hợp công nghệ.
Trong khi đó, Quy định chỉ nêu nguyên tắc chung, theo đó tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng công nghệ được phép chuyển giao quyền sử dụng đó cho bên khác khi có sự đồng ý của chủ sở hữu. Tuy nhiên, nội dung này chưa làm rõ hình thức đồng ý, cũng như chưa quy định cụ thể quyền và phạm vi của các bên liên quan.
6. Quy định cụ thể về góp vốn bằng công nghệ vào dự án đầu tư
- Chỉ tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hợp pháp công nghệ được góp vốn bằng công nghệ.
- Mở rộng phạm vi góp vốn: chủ sở hữu hợp pháp công nghệ được góp vốn vào dự án đầu tư hoặc doanh nghiệp.
- Chủ sở hữu hợp pháp công nghệ được quyền thương mại hóa công nghệ theo quy định pháp luật liên quan.
Trước đây, Điều 8 luật cũ cho phép rộng hơn và chưa quy định chặt chẽ các điều kiện này
7. Thay đổi cơ quan cấp phép chuyển giao công nghệ đối với công nghệ hạn chế chuyển giao
Trong khi đó, Điều 29 luật cũ tập trung thẩm quyền tại Bộ Khoa học và Công nghệ.
8. Bổ sung quy định về Nhà nước mua và phổ biến công nghệ
Khoản 16 Điều 1 Luật mới đã bổ sung quy định hoàn toàn mới về việc Nhà nước được mua và phổ biến công nghệ nhằm:
+ Phục vụ hoạt động giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh.
- Nhà nước phổ biến công nghệ bằng một hoặc nhiều hình thức: miễn phí, ưu đãi hoặc cấp quyền sử dụng có điều kiện; thúc đẩy hợp tác cùng phát triển công nghệ để nâng cao năng lực của tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam.
9. Quy định chuyển tiếp cho các hợp đồng và dự án chuyển giao công nghệ
- Thỏa thuận chuyển giao công nghệ ký trước ngày 01/4/2026 tiếp tục thực hiện theo thỏa thuận; sửa đổi, bổ sung, gia hạn sau ngày này thực hiện theo Luật số 115/2025/QH15.
- Hồ sơ đăng ký, gia hạn hợp đồng chuyển giao công nghệ thụ lý trước 01/4/2026 chưa giải quyết áp dụng Luật số 07/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung theo Luật số 16/2023/QH15 và Luật số 93/2025/QH15.- Hồ sơ chấp thuận, cấp phép chuyển giao công nghệ thụ lý trước 01/7/2025 chưa giải quyết đến 01/4/2026 áp dụng Luật số 07/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung theo Luật số 16/2023/QH15 và Luật số 93/2025/QH15.
- Dự án sử dụng công nghệ hạn chế chuyển giao hoặc có nguy cơ tác động xấu đến môi trường được phê duyệt trước 01/4/2026 chưa thẩm định hoặc có ý kiến về công nghệ, nếu điều chỉnh nội dung công nghệ sau ngày 01/4/2026 phải thẩm định hoặc lấy ý kiến theo Luật số 115/2025/QH15.Trong khi đó, luật cũ không có quy định cụ thể, dễ gây lúng túng khi áp dụng.
Trên đây là nội dung bài viết "Điểm mới đáng chú ý của Luật Chuyển giao công nghệ số sửa đổi 2025"
RSS