10 điểm mới của Luật Hòa giải ở cơ sở 2026 từ 01/3/2027

So với Luật năm 2013, Luật Hòa giải ở cơ sở 2026 bổ sung nhiều quy định mới về điều kiện tiến hành hòa giải, hòa giải trực tuyến, bảo mật thông tin, tiêu chuẩn và phương thức lựa chọn hòa giải viên...

Dưới đây là 10 điểm mới đáng chú ý.

1. Chỉ tiến hành hòa giải khi được các bên đồng ý

Theo Điều 23 Luật Hòa giải ở cơ sở 2026:

Vụ, việc thuộc phạm vi hòa giải ở cơ sở được hòa giải viên tiến hành hòa giải khi có sự đồng ý của các bên và thuộc một trong các căn cứ sau đây:

1. Một bên hoặc các bên yêu cầu hòa giải.

2. Hòa giải viên chủ động đề xuất hòa giải khi chứng kiến hoặc biết vụ, việc.

3. Theo đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Như vậy, vụ, việc chỉ được hòa giải khi có sự đồng ý của các bên và thuộc một trong các căn cứ sau:

Một bên hoặc các bên yêu cầu hòa giải; 

Hòa giải viên chủ động đề xuất khi chứng kiến hoặc biết vụ, việc; 

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đề nghị hòa giải. 

Như vậy, dù hòa giải viên chủ động đề xuất hay cơ quan, tổ chức, cá nhân đề nghị, việc hòa giải vẫn phải được các bên đồng ý.

Trong khi đó, Điều 16 Luật Hòa giải ở cơ sở 2013 chỉ quy định các căn cứ tiến hành hòa giải, gồm: một bên hoặc các bên yêu cầu; hòa giải viên chứng kiến hoặc biết vụ việc; theo sự phân công của Tổ trưởng tổ hòa giải hoặc đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan. Luật cũ chưa xác định rõ sự đồng ý của các bên là điều kiện chung để tiến hành hòa giải.

Điểm b khoản 1 Điều 22 Luật năm 2026 cũng ghi nhận quyền đồng ý, từ chối, yêu cầu tạm dừng hoặc chấm dứt hòa giải của các bên.

điểm mới của Luật Hòa giải ở cơ sở 2026

2. Cho phép hòa giải trực tuyến hoặc kết hợp trực tiếp với trực tuyến

Khoản 1 Điều 26 Luật Hòa giải ở cơ sở 2026 quy định hòa giải có thể được thực hiện theo ba hình thức:

Trực tiếp; 

Trực tuyến; 

Kết hợp trực tiếp với trực tuyến. 

Đây là điểm mới so với khoản 1 Điều 21 Luật năm 2013. Theo quy định cũ, hòa giải được tiến hành trực tiếp, bằng lời nói và có sự hiện diện của các bên, chưa ghi nhận hình thức trực tuyến.

Điểm a khoản 1 Điều 22 Luật năm 2026 còn cho phép các bên lựa chọn, đề xuất hình thức, địa điểm và thời gian hòa giải. Luật năm 2013 mới chỉ quy định quyền lựa chọn, đề xuất hòa giải viên, địa điểm và thời gian hòa giải.

Việc bổ sung hòa giải trực tuyến gắn với chủ trương chuyển đổi số. Khoản 5 Điều 6 khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và trang bị phương tiện kỹ thuật; khoản 10 Điều 12 quy định hòa giải viên được hỗ trợ khi ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số phù hợp với điều kiện thực tiễn.

3. Không được tự ý ghi âm, ghi hình quá trình hòa giải

Điều 5 Luật Hòa giải ở cơ sở 2026 quy định cụ thể về bảo mật thông tin trong hòa giải.

Theo khoản 2 Điều 5:

2. Trong quá trình hòa giải chỉ được ghi chép để phục vụ cho việc hòa giải và phải bảo mật nội dung đã ghi chép, không được ghi âm, ghi hình, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.

Như vậy, việc ghi âm, ghi hình không được thực hiện, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.

Thông tin phải bảo mật gồm bí mật nhà nước; thông tin về đời sống riêng tư; bí mật cá nhân, bí mật gia đình; bí mật kinh doanh của các bên và thông tin khác theo quy định. Trách nhiệm bảo mật áp dụng đối với hòa giải viên, các bên, người được mời tham gia, người phiên dịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm quy định về bảo mật, ghi âm hoặc ghi hình sẽ bị xử lý theo pháp luật, căn cứ khoản 3 Điều 5.

Trong khi đó, khoản 3 Điều 4 Luật năm 2013 mới chỉ đặt ra nguyên tắc giữ bí mật thông tin đời tư của các bên, chưa quy định cụ thể về ghi âm, ghi hình, bí mật kinh doanh và trách nhiệm của đầy đủ các chủ thể tham gia hòa giải.

4. Bổ sung tiêu chuẩn chặt chẽ hơn đối với hòa giải viên

Theo Điều 8 Luật Hòa giải ở cơ sở 2026, hòa giải viên phải đáp ứng các tiêu chuẩn:

Là công dân Việt Nam cư trú tại cơ sở; 

Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; 

Có phẩm chất đạo đức tốt, uy tín trong cộng đồng; 

Có khả năng thuyết phục, vận động Nhân dân; 

Có hiểu biết pháp luật. 

Ngoài ra, người làm hòa giải viên không được đang trong thời hạn xử lý hoặc thi hành quyết định kỷ luật; không trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; không bị truy cứu trách nhiệm hình sự; không đang chấp hành án hình sự hoặc chưa được xóa án tích.

Điều 7 Luật năm 2013 chỉ yêu cầu hòa giải viên là công dân Việt Nam thường trú tại cơ sở, tự nguyện tham gia; có phẩm chất đạo đức tốt, uy tín, khả năng thuyết phục, vận động Nhân dân và hiểu biết pháp luật.

Luật mới cũng thay điều kiện “thường trú tại cơ sở” bằng “cư trú tại cơ sở”. Theo điểm b khoản 1 Điều 14, người không còn đáp ứng một trong các tiêu chuẩn tại Điều 8 sẽ thôi làm hòa giải viên.

5. Được biểu quyết trực tuyến để bầu hòa giải viên

Khoản 2 Điều 9 Luật Hòa giải ở cơ sở 2026 bổ sung hình thức biểu quyết trực tuyến khi bầu hòa giải viên.

Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố tổ chức bầu hòa giải viên tại thôn, tổ dân phố hoặc từng cụm dân cư bằng một hoặc kết hợp các hình thức:

Biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín tại cuộc họp đại diện hộ gia đình; 

Phát phiếu lấy ý kiến đại diện hộ gia đình; 

Biểu quyết trực tuyến. 

Người được đề nghị công nhận phải đạt trên 50% tổng số đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý. Nếu số người đạt yêu cầu nhiều hơn số hòa giải viên cần có, danh sách được lập theo kết quả bầu từ cao xuống thấp.

Trường hợp chưa bảo đảm thành phần, số lượng hòa giải viên thì phải bầu bổ sung. Nếu tất cả người trong danh sách đều không đạt tỷ lệ trên 50% thì tổ chức bầu lại theo khoản 4 và khoản 5 Điều 9.

Trước đây, khoản 2 Điều 8 Luật năm 2013 chỉ quy định biểu quyết tại cuộc họp hoặc phát phiếu lấy ý kiến hộ gia đình; chưa có biểu quyết trực tuyến, kết hợp nhiều hình thức hoặc tổ chức bầu tại từng cụm dân cư.

6. Cho phép chỉ định hòa giải viên trong trường hợp đặc biệt

cho-phep-chi-dinh-hoa-giai-vien
Cho phép chỉ định hòa giải viên trong trường hợp đặc biệt (Ảnh minh họa)

Điều 10 Luật Hòa giải ở cơ sở 2026 bổ sung cơ chế chỉ định hòa giải viên khi không thể kiện toàn tổ hòa giải bằng thủ tục bầu thông thường.

Việc chỉ định được áp dụng khi đã bầu bổ sung hoặc bầu lại nhưng vẫn không bảo đảm thành phần, số lượng hòa giải viên; tất cả người trong danh sách không đạt trên 50% số đại diện hộ gia đình đồng ý; hoặc không thể tổ chức bầu do sự kiện bất khả kháng.

Người được chỉ định phải đáp ứng tiêu chuẩn tại Điều 8, tự nguyện tham gia và không thuộc trường hợp đã được đưa ra bầu nhưng không đạt tỷ lệ đồng ý.

Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố lựa chọn người đủ điều kiện để giới thiệu. Trên cơ sở danh sách đề nghị, Chủ tịch UBND cấp xã quyết định công nhận hòa giải viên theo Điều 11.

Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày ban hành quyết định công nhận người được chỉ định, Trưởng ban công tác Mặt trận phải tổ chức bầu hòa giải viên theo thủ tục thông thường.

Luật năm 2013 không quy định cơ chế chỉ định mà chỉ quy định việc ứng cử, giới thiệu, bầu, công nhận và tiếp tục bầu bổ sung nếu chưa đủ người thành lập tổ hòa giải.

7. Hòa giải viên được đề nghị Công an cấp xã bảo đảm an ninh, trật tự

Khoản 9 Điều 12 Luật Hòa giải ở cơ sở 2026, một trong những quyền của hòa giải viên được quy định như sau:

9. Được đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã bảo đảm an ninh, trật tự khi tiến hành hòa giải trong trường hợp nhận thấy mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật có thể dẫn đến hành vi bạo lực gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của hòa giải viên, các bên và những người khác tham gia hòa giải hoặc gây mất trật tự công cộng.

Như vậy, Luật 2026 cho phép hòa giải viên đề nghị UBND cấp xã hoặc Công an cấp xã bảo đảm an ninh, trật tự khi tiến hành hòa giải.

Quyền này được thực hiện khi mâu thuẫn, tranh chấp hoặc vi phạm pháp luật có thể dẫn đến bạo lực, ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của hòa giải viên, các bên, người tham gia hòa giải hoặc gây mất trật tự công cộng.

Nếu trực tiếp đề nghị UBND hoặc Công an cấp xã hỗ trợ, hòa giải viên phải kịp thời thông báo cho Tổ trưởng tổ hòa giải. Theo khoản 4 Điều 13, hòa giải viên còn phải phối hợp thực hiện biện pháp phòng ngừa nguy cơ bạo lực, mất trật tự.

Theo quy định cũ, khoản 4 Điều 10 Luật năm 2013 chỉ yêu cầu hòa giải viên thông báo cho Tổ trưởng tổ hòa giải để báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã có biện pháp phòng ngừa. Luật cũ chưa ghi nhận quyền trực tiếp đề nghị Công an cấp xã hỗ trợ và phạm vi bảo vệ cũng chưa cụ thể như Luật mới.

8. Người được mời trực tiếp tham gia hòa giải được hưởng thù lao

Các điều 19, 20 và 21 Luật Hòa giải ở cơ sở 2026 quy định người được mời tham gia hòa giải có thể là già làng, trưởng bản, chức sắc, chức việc tôn giáo; người có uy tín; người biết rõ vụ việc; người có trình độ pháp lý, kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn, xã hội hoặc đại diện cơ quan, tổ chức liên quan.

Theo khoản 2 Điều 19, người được mời có thể tư vấn, hỗ trợ hòa giải viên hoặc trực tiếp cùng hòa giải viên tham gia hòa giải. Việc trực tiếp tham gia phải được các bên đồng ý hoặc thống nhất mời và người được mời không thay thế vai trò chủ trì của hòa giải viên.

Khoản 2 Điều 20 quy định người trực tiếp tham gia hòa giải được hưởng thù lao theo vụ việc; được hỗ trợ, tạo điều kiện khắc phục hậu quả nếu gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng.

Điều 19 Luật năm 2013 đã cho phép mời người có uy tín, kiến thức hoặc biết rõ vụ việc, nhưng chưa phân biệt hoạt động tư vấn với trực tiếp tham gia, chưa quy định đầy đủ quyền, nghĩa vụ và chưa có chế độ thù lao đối với người được mời.

9. Kết quả hòa giải có thể được lập dưới dạng thông điệp dữ liệu

Theo khoản 1 Điều 29 Luật Hòa giải ở cơ sở 2026:

1. Kết quả hòa giải được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.
Kết quả hòa giải được thể hiện dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là bằng văn bản.


Như vậy, kết quả hòa giải có thể được thể hiện bằng lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể. Thông điệp dữ liệu đáp ứng pháp luật về giao dịch điện tử được coi là văn bản.

Nếu một trong các bên đồng ý, hòa giải viên phải lập văn bản về kết quả hòa giải. Văn bản phải có căn cứ tiến hành hòa giải, thành phần tham gia, nội dung vụ việc, diễn biến và kết quả hòa giải.

Với hòa giải thành, văn bản phải ghi thỏa thuận, giải pháp thực hiện, quyền và nghĩa vụ của các bên, phương thức và thời hạn thực hiện. Với hòa giải không thành, văn bản phải ghi ý kiến, quan điểm của các bên và nội dung liên quan.

Văn bản phải có chữ ký, điểm chỉ hoặc xác nhận của các bên, hòa giải viên và người tham gia. Nếu có người không ký, điểm chỉ hoặc xác nhận, hòa giải viên phải ghi rõ lý do.

Luật năm 2013 mới quy định các bên có thể thỏa thuận lập văn bản hòa giải thành, chưa quy định lập văn bản hòa giải không thành và chưa công nhận thông điệp dữ liệu là hình thức văn bản ghi nhận kết quả hòa giải.

10. Các bên được yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành

Điểm g khoản 1 Điều 22 và khoản 2 Điều 30 Luật Hòa giải ở cơ sở 2026 quy định các bên có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền công nhận kết quả hòa giải thành theo pháp luật tố tụng dân sự.

Khoản 1 Điều 30 đồng thời yêu cầu các bên thực hiện thỏa thuận hòa giải thành. Nếu một bên không thể thực hiện do sự kiện bất khả kháng, lỗi của bên kia hoặc trường hợp khác theo quy định thì phải trao đổi, thỏa thuận với bên kia và thông báo cho hòa giải viên.

Trong khi đó, Điều 25 Luật năm 2013 chỉ quy định trách nhiệm thực hiện thỏa thuận hòa giải thành và trường hợp không thể thực hiện do sự kiện bất khả kháng. Luật cũ chưa trực tiếp ghi nhận quyền yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành và chưa đề cập trường hợp không thể thực hiện do lỗi của bên kia.

Luật Hòa giải ở cơ sở 2026 có hiệu lực từ ngày 01/3/2027. Theo khoản 1 Điều 35, tổ hòa giải và hòa giải viên được thành lập, công nhận theo Luật năm 2013 tiếp tục hoạt động, không phải thành lập hoặc công nhận lại. Vụ việc chưa kết thúc trước ngày Luật mới có hiệu lực tiếp tục được giải quyết theo Luật số 35/2013/QH13.

Trên đây là điểm mới của Luật Hòa giải ở cơ sở 2026 từ 01/3/2027.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Thủ tục công nhận văn bằng nước ngoài: Hồ sơ, trình tự và thời hạn giải quyết

Thủ tục công nhận văn bằng nước ngoài: Hồ sơ, trình tự và thời hạn giải quyết

Thủ tục công nhận văn bằng nước ngoài: Hồ sơ, trình tự và thời hạn giải quyết

Việc sở hữu văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp ngày càng phổ biến trong bối cảnh hợp tác giáo dục quốc tế phát triển. Vậy thủ tục công nhận văn bằng nước ngoài được thực hiện như thế nào, cần chuẩn bị những giấy tờ gì và thời gian giải quyết trong bao lâu?

Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia gồm những nội dung gì?

Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia gồm những nội dung gì?

Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia gồm những nội dung gì?

Việc phát triển và sử dụng trí tuệ nhân tạo đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến an toàn, dữ liệu cá nhân, minh bạch và trách nhiệm đối với kết quả do AI tạo ra. Vậy Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia gồm những nội dung gì? Người sử dụng và đơn vị phát triển AI cần lưu ý những nguyên tắc nào?

Văn bản nào quy định về Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia?

Văn bản nào quy định về Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia?

Văn bản nào quy định về Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia?

Trí tuệ nhân tạo ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, kéo theo yêu cầu về an toàn, minh bạch, trách nhiệm và bảo vệ quyền con người. Vậy hiện nay, Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia được quy định tại văn bản nào và gồm những nội dung đáng chú ý gì?

Điều kiện hành nghề môi giới bất động sản và mức phạt vi phạm từ 26/8/2026

Điều kiện hành nghề môi giới bất động sản và mức phạt vi phạm từ 26/8/2026

Điều kiện hành nghề môi giới bất động sản và mức phạt vi phạm từ 26/8/2026

Môi giới bất động sản là hoạt động kinh doanh có điều kiện và phải tuân thủ các quy định pháp luật liên quan. Vậy điều kiện hành nghề và mức phạt đối với môi giới bất động sản từ 26/8/2026 được quy định thế nào?

Quy định về dạy thêm, học thêm của Hà Nội mới nhất là văn bản nào?

Quy định về dạy thêm, học thêm của Hà Nội mới nhất là văn bản nào?

Quy định về dạy thêm, học thêm của Hà Nội mới nhất là văn bản nào?

Từ 11/6/2026, Hà Nội ban hành Quyết định quy định hoạt động dạy thêm, học thêm trên địa bàn. Quyết định nêu rõ các yêu cầu cụ thể về đối tượng học thêm, thời lượng, sĩ số lớp, mức thu, trách nhiệm của giáo viên và điều kiện tổ chức dạy thêm ngoài nhà trường.

Tổng hợp quy định dạy thêm, học thêm mới nhất năm học 2026 - 2027

Tổng hợp quy định dạy thêm, học thêm mới nhất năm học 2026 - 2027

Tổng hợp quy định dạy thêm, học thêm mới nhất năm học 2026 - 2027

Năm học 2026 - 2027, việc tổ chức dạy thêm, học thêm phải tuân thủ chặt chẽ các quy định về đối tượng, thời lượng, địa điểm, thu tiền và trách nhiệm quản lý. Bài viết dưới đây tổng hợp những quy định mới nhất về dạy thêm, học thêm mà giáo viên, phụ huynh và học sinh cần lưu ý.