- 1. Chuyển sang quản lý hộ tịch điện tử, dữ liệu có giá trị pháp lý như bản giấy
- 2. Đăng ký hộ tịch không phụ thuộc nơi cư trú
- 3. Cơ quan Nhà nước tự khai thác dữ liệu, không yêu cầu nộp giấy tờ
- 4. Bổ sung cơ chế đăng ký hộ tịch tự động, chủ động
- 5. Xác định thông tin khai sinh là thông tin gốc của cá nhân
- 6. Quy định rõ quyền khai thác, sử dụng dữ liệu hộ tịch
- 7. Phân cấp mạnh thẩm quyền cho UBND cấp xã trong đăng ký hộ tịch
1. Chuyển sang quản lý hộ tịch điện tử, dữ liệu có giá trị pháp lý như bản giấy
Điều 10 Dự thảo Luật Hộ tịch đã quy định về giá trị pháp lý của giấy tờ hộ tịch, thông tin hộ tịch, dữ liệu hộ tịch điện tử.
Cụ thể, giấy tờ hộ tịch, thông tin hộ tịch trong Sổ hộ tịch, Cơ sở dữ liệu hộ tịch là căn cứ để điều chỉnh thông tin trong các giấy tờ, hồ sơ khác của cá nhân.
Dữ liệu hộ tịch điện tử bao gồm bản điện tử giấy tờ hộ tịch, dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch đáp ứng các quy định của pháp luật giao dịch điện tử, có giá trị như giấy tờ hộ tịch bản giấy khi thực hiện thủ tục hành chính và các giao dịch khác.
Theo đó, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử là hệ thống dữ liệu thống nhất, được quản lý trên môi trường số và có giá trị pháp lý tương đương giấy tờ hộ tịch. Thông tin trong hệ thống là căn cứ để xác nhận tình trạng hộ tịch của cá nhân.
Trong khi đó, theo Điều 57, 58, 59 Luật Hộ tịch 2014., việc quản lý hộ tịch vẫn thực hiện đồng thời bằng sổ giấy và dữ liệu điện tử, trong đó sổ giấy là hình thức chính.
Như vậy, quy định mới đã chuyển từ mô hình quản lý truyền thống sang quản lý hoàn toàn bằng dữ liệu số, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.

2. Đăng ký hộ tịch không phụ thuộc nơi cư trú
Theo khoản 1 và khoản 2 Điều 8 dự thảo, việc đăng ký hộ tịch được thực hiện không phụ thuộc vào nơi cư trú của cá nhân.
Cụ thể, Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền đăng ký các việc hộ tịch mà không bị giới hạn bởi nơi thường trú hoặc tạm trú của người dân. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã là người có thẩm quyền ký giấy tờ hộ tịch và có thể ủy quyền cho người khác ký tùy theo tình hình thực tế tại địa phương.
Tuy nhiên, việc ủy quyền này không áp dụng đối với các giấy tờ quan trọng như Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy chứng tử và các giấy tờ hộ tịch có yếu tố nước ngoài.
Như vậy, trên cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử được kết nối toàn quốc, người dân có thể thực hiện đăng ký hộ tịch tại bất kỳ Ủy ban nhân dân cấp xã nào, không phụ thuộc vào nơi cư trú, qua đó tạo thuận lợi hơn trong quá trình thực hiện thủ tục.
Theo Điều 4 dự thảo, nội dung đăng ký hộ tịch bao gồm việc xác nhận các thông tin, sự kiện cơ bản của cá nhân như: khai sinh, kết hôn, giám hộ và giám sát việc giám hộ, nhận cha, mẹ, con, thay đổi thông tin hộ tịch, xác nhận tình trạng hôn nhân và khai tử.
Đồng thời, cơ quan hộ tịch còn thực hiện việc cập nhật thông tin vào Sổ hộ tịch và Cơ sở dữ liệu hộ tịch theo bản án, quyết định hoặc giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp đối với các thay đổi như: thông tin hộ tịch, quốc tịch; xác định cha, mẹ, con; xác định lại giới tính; nuôi con nuôi hoặc chấm dứt việc nuôi con nuôi; ly hôn, hủy kết hôn trái pháp luật hoặc công nhận việc kết hôn;...
Trong khi đó, Điều 7 Luật Hộ tịch 2014 quy định việc đăng ký hộ tịch phải thực hiện tại cơ quan có thẩm quyền nơi cư trú của người yêu cầu.
Quy định mới đã xóa bỏ rào cản địa giới hành chính, tạo thuận lợi cho người dân làm việc, sinh sống ở nhiều địa phương khác nhau.
3. Cơ quan Nhà nước tự khai thác dữ liệu, không yêu cầu nộp giấy tờ
Theo khoản 5 Điều 9 dự thảo:
5. Cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm chủ động khai thác dữ liệu điện tử, tra cứu thông tin trong cơ sở dữ liệu liên quan, phù hợp với mức độ đáp ứng của cơ sở dữ liệu, không yêu cầu nộp, xuất trình hoặc tải lên giấy tờ là thành phần hồ sơ, trừ trường hợp không khai thác được thông tin hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác.
Như vậy, dự thảo đề xuất cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm khai thác thông tin trong các cơ sở dữ liệu đã kết nối và không được yêu cầu người dân nộp hoặc xuất trình giấy tờ nếu thông tin đã có sẵn.
Trong khi đó, Điều 9 Luật Hộ tịch 2014 yêu cầu người dân phải nộp, xuất trình giấy tờ để chứng minh nội dung đăng ký hộ tịch.
4. Bổ sung cơ chế đăng ký hộ tịch tự động, chủ động
Tại Điều 16 (Đăng ký khai sinh) và Điều 21 (Đăng ký khai tử) của dự thảo đã cho phép thực hiện đăng ký hộ tịch theo phương thức chủ động, dựa trên dữ liệu từ cơ sở y tế hoặc cơ quan liên quan. Cụ thể theo khoản 2 Điều 16:
2. Trường hợp trẻ em sinh ra tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, đã cung cấp đủ nội dung đăng ký khai sinh theo quy định, dữ liệu được kết nối, chia sẻ tự động tới hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử thì Ủy ban nhân dân cấp xã chủ động thực hiện đăng ký khai sinh.
Và theo khoản 2 Điều 21:
2. Trường hợp cá nhân chết tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, đã cung cấp đủ nội dung đăng ký khai tử theo quy định, dữ liệu được kết nối, chia sẻ tự động tới hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử thì Ủy ban nhân dân cấp xã chủ động thực hiện đăng ký khai tử.
Trong khi đó, Luật Hộ tịch 2014 không có quy định về cơ chế này, mà yêu cầu cá nhân hoặc gia đình phải trực tiếp đi đăng ký.
5. Xác định thông tin khai sinh là thông tin gốc của cá nhân
Theo khoản 2 Điều 10 dự thảo, thông tin khai sinh là thông tin hộ tịch gốc, làm căn cứ để xác định và thống nhất các thông tin trong giấy tờ khác của cá nhân.Cụ thể:
2. Thông tin khai sinh là thông tin hộ tịch gốc của cá nhân. Mọi hồ sơ, giấy tờ, thông tin trong Cơ sở dữ liệu khác của cá nhân có nội dung về họ, chữ đệm, tên; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; giới tính; dân tộc; quốc tịch; số định danh cá nhân; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với thông tin khai sinh của người đó. ..
Trong khi đó, Luật Hộ tịch 2014 chưa quy định rõ vai trò này, dẫn đến thực tế có thể xảy ra không thống nhất giữa các giấy tờ.
6. Quy định rõ quyền khai thác, sử dụng dữ liệu hộ tịch

Điều 27 dự thảo quy định về việc khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch như sau:
- Cá nhân được khai thác thông tin của mình trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch.
- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền được khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó.
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc 2 trường hợp trên khi khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch phải được sự đồng ý của cơ quan đăng ký, quản lý hộ tịch và cá nhân là chủ thể của thông tin được khai thác.
Trường hợp khai thác thông tin của người chưa thành niên, người bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị tuyên bố mất tích, người đã chết phải được sự đồng ý của cơ quan đăng ký, quản lý hộ tịch và một trong những người đại diện hợp pháp, người thân thích của cá nhân đó...
Như vậy, theo đề xuất thì cá nhân được khai thác dữ liệu của mình và Tổ chức chỉ được khai thác khi có sự đồng ý của cá nhân hoặc theo quy định pháp luật
Trong khi đó, Luật Hộ tịch 2014 chưa có quy định cụ thể về vấn đề này.
7. Phân cấp mạnh thẩm quyền cho UBND cấp xã trong đăng ký hộ tịch
Dự thảo Luật Hộ tịch đã bỏ cấp huyện và chuyển toàn bộ thẩm quyền đăng ký hộ tịch về UBND cấp xã, phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền mới.
Theo Điều 3 dự thảo, cơ quan đăng ký hộ tịch trong nước chỉ còn UBND cấp xã, không còn UBND cấp huyện như quy định tại Luật Hộ tịch 2014. Trên cơ sở đó, các thẩm quyền trước đây thuộc cấp huyện đã được chuyển xuống cấp xã, gồm:
- Đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài (kết hôn, khai sinh, nhận cha mẹ con…)
- Đăng ký khai sinh trong các trường hợp đặc biệt, có yếu tố nước ngoài
- Đăng ký nhận cha, mẹ, con; giám hộ có yếu tố nước ngoài
- Thay đổi, cải chính hộ tịch cho mọi đối tượng (không còn phân biệt độ tuổi như trước)
- Ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện đã giải quyết ở nước ngoài
- Đăng ký khai tử có yếu tố nước ngoài
Các nội dung này trước đây thuộc thẩm quyền UBND cấp huyện theo Luật Hộ tịch 2014) được giao thống nhất cho UBND cấp xã.
Trên đây là điểm mới của dự thảo Luật Hộ tịch.
RSS