Trong bài viết dưới đây, LuatVietnam sẽ tổng hợp các chính sách mới lĩnh vực Tư pháp hộ tịch có hiệu lực tháng 10/2026 theo quy định của pháp luật.
- 1. Cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội, sĩ quan Công an có thể là luật sư công
- 2. Từ 01/10/2026, luật sư công phải từ chối vụ việc khi có xung đột lợi ích
- 3. Thời gian tập sự của luật sư công là 4, 6 hoặc 12 tháng tùy kinh nghiệm
- 4. Bị cáo vi phạm pháp luật về đất đai được xem xét miễn trách nhiệm hình sự ngay tại phiên tòa
- 5. Cán bộ giải quyết khiếu nại, tố cáo không được trù dập người tố cáo
- 6. Hồ sơ đề nghị cấp ý kiến pháp lý được gửi bằng bản điện tử
1. Cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội, sĩ quan Công an có thể là luật sư công
Theo Điều 5 Nghị quyết 24/2026/QH16, quy định cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước muốn trở thành “luật sư công” phải đáp ứng các tiêu chí sau:
- Có tư tưởng chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, liêm chính;
- Có đủ tiêu chuẩn luật sư theo quy định của Luật Luật sư;
- Có ít nhất 05 năm kinh nghiệm làm việc thường xuyên, trực tiếp trong lĩnh vực pháp luật hoặc kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn pháp luật hoặc giải quyết vụ, việc pháp lý phức tạp theo quy định của Chính phủ.
Đồng thời, tại khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 24/2026/QH16 quy định việc thí điểm chế định luật sư công được tổ chức thực hiện tại Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, Đồng Nai, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Khánh Hòa và Lâm Đồng.
Ngoài ra, Nghị quyết cũng quy định rõ luật sư công thực hiện các công việc có tính chất pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan nhà nước, cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị, doanh nghiệp nhà nước theo quy định của Nghị quyết này và quy định khác của pháp luật có liên quan và không được phép cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng ngoài khu vực nhà nước.

2. Từ 01/10/2026, luật sư công phải từ chối vụ việc khi có xung đột lợi ích
Khi tham gia giải quyết vụ, việc có tính chất pháp lý tại khu vực nhà nước, luật sư công phải tuân thủ yêu cầu về tính độc lập, trung thực và khách quan. Đồng thời phải từ chối các vụ việc không đảm bảo tính độc lập, có xung đột lợi ích.
Theo khoản 2 Điều 20 Nghị định 364/2026/NĐ-CP quy định:
2. Luật sư công có nghĩa vụ từ chối tham gia giải quyết vụ, việc và báo cáo bằng văn bản với người đứng đầu cơ quan sử dụng luật sư công, cơ quan, tổ chức quản lý của mình nếu việc tham gia không bảo đảm tính độc lập, trung thực, khách quan hoặc có xung đột lợi ích.
Trong quá trình giải quyết vụ, việc, luật sư công có quyền bảo lưu ý kiến chuyên môn của mình bằng văn bản; văn bản bảo lưu ý kiến được gửi cơ quan sử dụng luật sư công.
Như vậy, luật sư công có nghĩa vụ từ chối tham gia giải quyết vụ, việc nếu việc tham gia không bảo đảm tính độc lập, trung thực, khách quan hoặc có xung đột lợi ích. Việc từ chối phải được báo cáo bằng văn bản với người đứng đầu cơ quan sử dụng luật sư công và cơ quan, tổ chức quản lý mình.
3. Thời gian tập sự của luật sư công là 4, 6 hoặc 12 tháng tùy kinh nghiệm
Theo Nghị định 364/2026/NĐ-CP, người muốn trở thành luật sư công cần phân biệt hai giai đoạn là đào tạo nghề luật sư và tập sự hành nghề luật sư. Thời gian đào tạo nghề luật sư là 12 tháng theo khoản 2 Điều 4. Trong khi đó, thời gian tập sự được xác định theo từng nhóm đối tượng tại khoản 2 Điều 5 Nghị định này. Cụ thể:
- Thời gian tập sự 06 tháng đối với người đã giữ ngạch chuyên viên, pháp chế viên, thanh tra viên, nghiên cứu viên, giảng viên trong lĩnh vực pháp luật hoặc giữ chức danh thẩm phán Tòa án nhân dân bậc 1 từ 10 năm trở lên; người đã từng là trợ giúp viên pháp lý hạng III cũng thuộc nhóm này.
- Nếu thời gian giữ các ngạch, chức danh nêu trên dưới 10 năm, thời gian tập sự là 12 tháng.
- Người thuộc trường hợp sau và người đã từng là trợ giúp viên pháp lý hạng II thì thời gian tập sự là 04 tháng, gồm:
- Người đã từng là chấp hành viên trung cấp, thẩm tra viên chính;
- Người là chuyên viên chính, pháp chế viên chính, thanh tra viên chính, nghiên cứu viên chính, giảng viên chính trong lĩnh vực pháp luật.
4. Bị cáo vi phạm pháp luật về đất đai được xem xét miễn trách nhiệm hình sự ngay tại phiên tòa
Đây là điểm đáng chú ý tại Nghị quyết 04 2026 NQ-HĐTP về hướng dẫn áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù tại Nghị quyết 29/2026/QH16.
Cụ thể, Điều 3 Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP, từ ngày 15/10/2026 Hội đồng xét xử xem xét, quyết định miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo tại phiên tòa nếu thấy bị cáo có đủ căn cứ tại Điều 5 và Điều 7 Nghị quyết 29/2026/QH16.
Theo khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 29/2026/QH16, trường hợp hành vi không gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước, người vi phạm phải đáp ứng đầy đủ bốn điều kiện:
- Không tham nhũng;
- Thực hiện hành vi vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh;
- Dự án, công trình đã hoàn thành và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước;
- Không có khiếu nại, tố cáo hoặc các khiếu nại, tố cáo liên quan đã được giải quyết dứt điểm theo quy định.
Trường hợp hành vi có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước, khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 29/2026/QH16 yêu cầu người vi phạm phải đáp ứng các điều kiện nêu trên và đã khắc phục toàn bộ hậu quả. Điều 7 Nghị quyết này quy định trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng miễn trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp đủ điều kiện tại Điều 5.
Để xem xét đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, Tòa án căn cứ vào các tài liệu xác định vụ án, vụ việc vi phạm pháp luật về đất đai nhưng không tham nhũng xảy ra trước ngày 01/8/2024; tài liệu xác định hành vi có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước hay không và hậu quả thiệt hại cụ thể nếu có.
5. Cán bộ giải quyết khiếu nại, tố cáo không được trù dập người tố cáo
Theo điểm a khoản 3 Điều 13 Thông tư 06/2026/TT-TTCP, cán bộ, công chức, viên chức không được gây khó khăn, phiền hà, sách nhiễu hoặc cố ý kéo dài thời gian giải quyết vụ việc trái quy định pháp luật; không được đe dọa, trả thù hoặc trù dập người khiếu nại, tố cáo.
Bên cạnh đó, điểm d khoản 3 Điều 13 tiếp tục quy định cán bộ không được tiết lộ trái pháp luật thông tin, tài liệu, danh tính của người tố cáo hoặc người được pháp luật bảo vệ. Cán bộ cũng không được can thiệp trái pháp luật hoặc để tổ chức, cá nhân khác tác động trái pháp luật đến quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Đồng thời, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, cán bộ phải bảo đảm khách quan, công tâm, thận trọng và đúng pháp luật; tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Việc thu thập, kiểm tra, xác minh và đánh giá thông tin, tài liệu phải được thực hiện thận trọng, khách quan.
6. Hồ sơ đề nghị cấp ý kiến pháp lý được gửi bằng bản điện tử
Theo khoản 6 Điều 1 Nghị định 324 2026 NĐ CP sửa đổi, bổ sung Điều 11 Nghị định 51 2015 NĐ CP, sau khi văn bản được xem xét cấp ý kiến pháp lý đã được ký, phê duyệt hoặc phê chuẩn, cơ quan, tổ chức có nhu cầu gửi 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp ý kiến pháp lý đến Bộ Tư pháp. Hồ sơ được gửi bằng bản điện tử hoặc bản giấy.
Tuy nhiên, hồ sơ phải được gửi bằng bản giấy trong 03 trường hợp:
- Hồ sơ có nội dung thuộc phạm vi bí mật nhà nước;
- Hệ thống thông tin chưa đáp ứng việc gửi, tiếp nhận bản điện tử;
- Hệ thống thông tin gặp sự cố.
Trên đây là thông tin liên quan đến chính sách mới về lĩnh vực Tư pháp hộ tịch có hiệu lực từ tháng 10/2026…
RSS