Theo Nghị định 282/2026/NĐ-CP, các ngành công nghiệp văn hóa là những ngành nào và quy định liên quan đến phát triển các ngành này ra sao?
1. Các ngành công nghiệp văn hóa là những ngành nào?
Khái niệm ngành công nghiệp văn hóa được quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định 282/2026/NĐ-CP như sau:
Các ngành công nghiệp văn hóa là những ngành tạo ra các sản phẩm kết hợp yếu tố văn hóa, sáng tạo, công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, hưởng thụ văn hóa của người dân và phù hợp với mục tiêu hội nhập quốc tế, phát triển bền vững đất nước, bao gồm: Điện ảnh; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; nghệ thuật biểu diễn; phần mềm và các trò chơi giải trí; quảng cáo; thủ công mỹ nghệ; du lịch văn hóa; thiết kế sáng tạo; truyền hình và phát thanh; xuất bản.
Theo đó, các ngành công nghiệp văn hóa là những ngành sau:
- Điện ảnh;
- Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm;
- Nghệ thuật biểu diễn;
- Phần mềm và các trò chơi giải trí;
- Quảng cáo;
- Thủ công mỹ nghệ;
- Du lịch văn hóa;
- Thiết kế sáng tạo;
- Truyền hình và phát thanh;
- Xuất bản.
Các ngành công nghiệp văn hóa này tạo ra các sản phẩm kết hợp yếu tố văn hóa, sáng tạo, công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, hưởng thụ văn hóa của người dân và phù hợp với mục tiêu hội nhập quốc tế, phát triển bền vững đất nước

2. Nhân lực các ngành công nghiệp văn hóa được hỗ trợ đào tạo như thế nào?
Theo Điều 28 Nghị định 282/2026/NĐ-CP có quy định về việc hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng nhân lực chất lượng cao cho các ngành công nghiệp văn hóa như sau:
- Về đối tượng: theo điểm a khoản 1 Điều 28 quy định người học, công chức, viên chức, người lao động, chuyên gia, cá nhân hoạt động nghề nghiệp trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, di sản văn hóa thuộc nhóm nhân lực chất lượng cao các ngành công nghiệp văn hóa được xem xét, hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng ở trong nước hoặc nước ngoài.
- Về điều kiện hưởng hỗ trợ, nhân lực chất lượng cao các ngành công nghiệp văn hóa phải đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:
- Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đơn vị sự nghiệp công lập, cơ sở đào tạo, tổ chức, doanh nghiệp trong lĩnh vực liên quan cử, đề cử hoặc tuyển chọn tham gia chương trình, khóa đào tạo, bồi dưỡng theo đề án, kế hoạch, nhiệm vụ, dự án hoặc chương trình hợp tác được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
- Chương trình đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với danh mục lĩnh vực, chuyên ngành ưu tiên do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành hoặc công bố theo thẩm quyền;
- Có hồ sơ năng lực, kết quả học tập, thành tích chuyên môn, công trình, sản phẩm, dự án hoặc kinh nghiệm thực tiễn phù hợp với yêu cầu của chương trình đào tạo, bồi dưỡng;
- Có cam kết làm việc, tham gia hoạt động nghề nghiệp, chuyển giao hoặc ứng dụng kết quả đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu của chương trình, đề án, nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước.
- Về hình thức hỗ trợ gồm:
- Cử đi đào tạo, bồi dưỡng theo kế hoạch của cơ quan, đơn vị;
- Hỗ trợ theo chương trình, đề án, dự án hoặc đặt hàng đào tạo, bồi dưỡng;
- Liên kết đào tạo, bồi dưỡng với cơ sở đào tạo, tổ chức, chuyên gia trong nước và nước ngoài;
- Hỗ trợ học tập, thực hành nghề nghiệp, thực tập, trao đổi chuyên môn, cập nhật công nghệ, kỹ năng số, quản trị, sở hữu trí tuệ và kiến thức chuyên sâu khác đáp ứng mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa.
- Thời gian đào tạo, bồi dưỡng được quy định từ 01 đến 06 tháng đối với các khóa bồi dưỡng ngắn hạn; từ 01 đến 02 năm đối với chương trình thạc sĩ và từ 04 đến 05 năm đối với chương trình tiến sĩ, bao gồm cả thời gian thực tập tại các bảo tàng, triển lãm, viện nghiên cứu lớn và các cơ sở chức năng ở trong nước và nước ngoài.
- Trách nhiệm của người được hỗ trợ: Người được hỗ trợ có trách nhiệm báo cáo kết quả học tập, nộp văn bằng, chứng chỉ, sản phẩm, báo cáo chuyển giao; trường hợp được hỗ trợ đào tạo có thời gian từ 03 tháng trở lên thì phải cam kết phục vụ hoặc tham gia hoạt động nghề nghiệp theo yêu cầu của cơ quan, đơn vị, chương trình, đề án trong thời gian tối thiểu gấp hai lần thời gian đào tạo, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa, tổ hợp sáng tạo văn hóa là gì?
Theo Điều 5 Nghị định 282/2026/NĐ-CP, cụm công nghiệp sáng tạo văn hóa, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa và tổ hợp sáng tạo văn hóa được xác định như sau:
- Cụm công nghiệp sáng tạo văn hóa có quy mô tập trung các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh, nhóm sáng tạo, nghệ sĩ, nhà thiết kế, nhà sản xuất, cơ sở đào tạo, cơ sở thực hành nghề và các chủ thể khác được liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm, dịch vụ, có tính chuyên môn hóa cao trong các ngành công nghiệp văn hóa.
- Khu công nghiệp sáng tạo văn hóa là khu chức năng có quy hoạch theo pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn, có quy mô lớn, tập trung các tập đoàn, doanh nghiệp lớn, có thương hiệu, có hạ tầng đồng bộ, có các phân khu chức năng phục vụ sáng tạo, sản xuất các sản phẩm văn hóa ở quy mô công nghiệp.
- Tổ hợp sáng tạo văn hóa là doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức khoa học và công nghệ, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp hoặc tổ chức hợp pháp khác thực hiện một hoặc một số chức năng, hoạt động của cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa.
Trên đây là thông tin về “Các ngành công nghiệp văn hóa là những ngành nào?”. Theo Nghị định 282/2026/NĐ-CP, có 10 ngành công nghiệp văn hóa, từ điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn đến phần mềm và trò chơi giải trí, quảng cáo, thiết kế sáng tạo, truyền hình, phát thanh và xuất bản. Vui lòng tham khảo chi tiết Nghị định 282/2026/NĐ-CP và các quy định liên quan trên LuatVietnam.vn.
RSS