Nhiều khi, người gây ra thiệt hại chưa kịp bồi thường thì đã chết. Vậy trong trường hợp như thế, người bị thiệt hại sẽ đòi bồi thường từ ai?
04 trường hợp phải bồi thường thiệt hại
Theo quy định tại Điều 13 Bộ luật Dân sự 2015, cá nhân, pháp nhân được bồi thường thiệt hại khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Theo đó, người gây ra thiệt hại phải bồi thường khi xâm phạm đến:
- Tính mạng, sức khỏe;
- Danh dự, nhân phẩm, uy tín;
- Tài sản;
- Quyền và lợi ích hợp pháp khác;
Trong đó, thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời, nhanh chóng. Các bên sẽ thỏa thuận về mức bồi thường, cách thức thực hiện bồi thường bằng tiền, hiện vật ….
Đặc biệt, nếu thiệt hại gây ra do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường. Nhưng nếu người bị thiệt hại chỉ có một phần lỗi thì người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại mà mình gây ra.
Những trường hợp phải bồi thường thiệt hại theo quy định (Ảnh minh họa)
Người dưới 15 tuổi gây thiệt hại, cha mẹ phải bồi thường toàn bộ
Theo quy định tại Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015, người đủ 18 tuổi trở lên có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do chính mình gây ra.
Ngoài ra, một số đối tượng khác nếu gây thiệt hại thì được quy định như sau:
- Cha mẹ phải bồi thường toàn bộ nếu người chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại. Trong trường hợp tài sản của cha mẹ không đủ để bồi thường thì người dưới 15 tuổi phải lấy tài sản riêng của mình (nếu có) bồi thường. Nếu trong thời gian trường học trực tiếp quản lý thì nhà trường phải có trách nhiệm bồi thường;
- Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải tự dùng tài sản của mình để bồi thường cho những thiệt hại mà mình gây ra. Nếu tài sản không đủ thì cha mẹ phải bồi thường số thiệt hại còn thiếu.
- Người giám hộ dùng tài sản của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi để bồi thường. Nếu những người này không có hoặc tài sản không đủ để bồi thường thì người giám hộ phải lấy tài sản của mình để bồi thường.
Lưu ý: Nếu những người này gây thiệt hại khi đang được bệnh viện trực tiếp quản lý thì bệnh viện phải bồi thường thiệt hại.
Người gây thiệt hại chết, đòi bồi thường như thế nào? (Ảnh minh họa)
Người gây thiệt hại đã chết, đòi bồi thường thế nào?
Nhiều người quan niệm, chết là xong hết mọi nghĩa vụ và trách nhiệm. Tuy nhiên, không hẳn lúc nào điều đó cũng đúng. Một trong số đó là nghĩa vụ thực hiện bồi thường thiệt hại.
Theo đó, Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015 nêu rõ: “Những người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”
Do đó, nếu người gây ra thiệt hại đã chết thì trách nhiệm bồi thường sẽ do những người thừa kế của người đó thực hiện. Đặc biệt, những người thừa kế chỉ phải thực hiện nghĩa vụ tài sản không vượt quá phần tài sản mà mình được hưởng.
Theo đó, những người sau đây có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại thay cho người chết:
- Hàng thừa kế thứ nhất: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
- Hàng thừa kế thứ hai: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
- Hàng thừa kế thứ ba: Cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Trong đó, thứ tự ưu tiên hưởng thừa kế được sắp xếp theo thứ tự các hàng thừa kế. Những người có tên trong hàng thừa kế thứ nhất phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của người chết trước. Nếu hàng thừa kế trước không còn ai thì hàng thừa kế sau phải thực hiện.
Bởi vậy, nếu người gây thiệt hại đã chết thì trước tiên người bị thiệt hại phải liên hệ với vợ, chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi… của người này để yêu cầu đòi bồi thường. Nếu họ không thực hiện thì có thể khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu những người này bồi thường.
Nuôi con nuôi trong nước là việc nuôi con diễn ra giữa công dân Việt Nam với nhau thường trú tại Việt Nam. Dưới đây là hướng dẫn mới nhất và chi tiết nhất thủ tục nhận con nuôi trong nước.
Một trong những giải pháp giúp các cặp vợ chồng hiếm muộn, vô sinh có thể được làm cha, làm mẹ là mang thai hộ. Dưới đây là tổng hợp các quy định mới nhất về thủ tục này.
Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi. Dưới đây là thủ tục xin nhận con nuôi mới nhất hiện nay.
“Nhẫn cưới là tài sản chung hay tài sản riêng”, “Có nên bán nhẫn cưới không”, “Khi ly hôn nhẫn cưới thuộc về ai”, hay “Có phải chia nhẫn cưới như những tài sản khác hay không”,... là những câu hỏi nhận về nhiều ý kiến trái chiều trên các diễn đàn hôn nhân. Hãy cùng tìm hiểu về quyền sở hữu nhẫn cưới cũng như những cách xử lý nhẫn cưới khi ly hôn trong bài viết dưới đây nhé!
Ngoài việc nhận thừa kế theo di chúc thì người thừa kế còn được hưởng di sản theo pháp luật. Dưới đây là thủ tục phân chia di sản thừa kế theo pháp luật mới nhất hiện nay.
Bên cạnh việc được quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật, cá nhân cũng có quyền được từ chối di sản. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cá nhân cũng được từ chối.
Hiện nay, để thuận tiện hơn khi thực hiện các thủ tục hành chính, nhiều tỉnh, thành phố đã triển khai đăng ký trực tuyến. Dưới đây là hướng dẫn chi tiết thủ tục xác nhận tình trạng hôn nhân online mới nhất.
Quy định về ngoại tình được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình và các văn bản khác liên quan. Những quy định này nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng và các hành vi vi phạm sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Năm học mới sắp tới, đây là thời điểm sinh viên bắt đầu đến các trường đại học để tìm kiếm nhà trọ cho ít nhất 04 năm đại học sắp tới. Bài viết dưới đây sẽ đề cập đến các tips tân sinh viên không thể bỏ qua khi đi tìm phòng trọ.